- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Ngọc Diễm C phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc Diễm C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:11/2021/HS-ST. Ngày: 18-5-2021 |
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Hồng Phước
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Nguyễn Ngọc Tiến.
+ Ông Nguyễn Như Tân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Thúy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Triệu Phong.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Huân - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2021, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2021/HSST ngày 08 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:
VÕ NGỌC DIỄM C; sinh năm 2000, tại Quảng Trị. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chổ ở hiện nay: Thôn Võ Phúc An, xã Triệu Thuận, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Ngọc Đức, sinh năm 1960 và bà Lê Thị Huề, sinh năm 1965; đều có nơi cư trú: Thôn Lương Tài Xá, xã Triệu Đại, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị; chồng Hồ Sỹ Thắng, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn Võ Phúc An, xã Triệu Thuận, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị; có 01 con sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” - Có mặt tại phiên toà.
- Bị hại:
+ Bà Mai Thị Ánh T, sinh năm 1992; nơi cư trú: Ấp 3, xã Hựu Thạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An - Vắng mặt.
+ Bà Nguyễn Thị Hoài T, sinh năm 1994; nơi cư trú:Thôn Tằng My, xã Nam Hồng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội - Vắng mặt..
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Tạ Đức N, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn Đìa, xã Nam Hồng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội - Vắng mặt.
+ Bà Mai Thị Ánh T, sinh năm 2000; nơi cư trú: Ấp 3, xã Hựu Thạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An - Vắng mặt.
+ Bà Tô Thị S, sinh năm 1996; nơi cư trú: Số 29 Hoàng Quốc Việt, thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 04/3/2020, Võ Ngọc Diễm C, sinh năm 2000; trú tại thôn Võ Phúc An, xã Triệu Thuận, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị đã lợi dụng tình hình dịch Covid - 19 bùng phát, lừa bán khẩu trang y tế cho một số cá nhân có nhu cầu, chiếm đoạt số tiền 6.000.000 đồng, cụ thể như sau:
Ngày 04/3/2020, mặc dù không có khẩu trang y tế nhưng Võ Ngọc Diễm C vẫn dùng tài khoản Fecebook của mình tên “Ngọc Châu” vào trang Facebook “chợ online toàn quốc” giả vờ đăng bài bán khẩu trang y tế.
Khoảng 17 giờ cùng ngày, chị Mai Thị Ánh T, sinh năm 1992, hộ khẩu thường trú tại xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai (tạm trú: Ấp 3, xã Hựu Thạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An) nhắn tin qua Messenger cho C hỏi mua khẩu trang. Hai bên thỏa thuận giá 01 thùng khẩu trang là 3.000.000 đồng. Sợ chị T nghi ngờ nếu chuyển một lúc 3.000.000 đồng nên C đề nghị chị T chuyển trước cho mình 1.500.000 đồng qua tài khoản Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) số 54010000720836 của Võ Ngọc Diễm C để đặt cọc. Do tin tưởng nên chị T đã nhờ em gái của mình là chị Mai Thị Ánh T chuyển vào tài khoản của Võ Ngọc Diễm C số tiền 1.500.000 đồng theo yêu cầu. Khoảng 01 giờ sau khi nhận tiền, C tiếp tục đưa ra các thông tin gian dối yêu cầu chị T chuyển tiếp số tiền còn lại rồi mới giao hàng, do tin tưởng nên chị T chuyển tiếp cho Châu số tiền còn lại 1.500.000 đồng. Sau khi nhận đủ số tiền 3.000.000 đồng của chị T, C đã chặn mọi liên lạc với chị T và dùng số tiền chiếm đoạt của chị T để tiêu xài cá nhân và dùng sinh hoạt gia đình.
Cũng trong ngày 04/3/2020, chị Nguyễn Thị Hoài T, sinh năm 1994, trú tại thôn Tằng My, xã Nam Hồng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội sử dụng tài khoản Facebook “Hoài Thơm” nhắn tin cho C qua ứng dụng Messenger để đặt mua khẩu trang. Bằng thủ đoạn tương tự như đối với chị T, Châu yêu cầu chị T chuyển trước cho C số tiền 1.500.000 đồng và chị T đã nhờ chồng chị Thơm là anh Tạ Đức N chuyển vào tài khoản Châu số tiền 1.500.000 đồng. Sau đó Châu nhắn tin cho chị Thơm qua ứng dụng Messenger lừa chị T rằng do hết hàng nên yêu cầu chị T chuyển tiếp 1.500.000 đồng mới gửi hàng đi được. Do tin tưởng nên chị T tiếp tục chuyển cho C số tiền còn lại 1.500.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt số tiền 3.000.000 đồng của chị T, C chặn luôn liên lạc với chị T và dùng số tiền chiếm đoạt của chị T tiêu xài cá nhân và dùng sinh hoạt gia đình.
Cáo trạng số 09/QĐ-VKS-HS ngày 06/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Võ Ngọc Diễm C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc Diễm C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt Võ Ngọc Diễm C từ 03 năm đến 04 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 thẻ ngân hàng (ATM) của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) số 9704180102575784 màu vàng, bề mặt in nổi dòng chữ “VO NGOC DIEM CHAU” của Võ Ngọc Diễm C.
Bị cáo Võ Ngọc Diễm C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai có trong hồ sơ vụ án, bản cáo trạng, đủ cơ sở khẳng định: Ngày 04/3/2020 Võ Ngọc Diễm Châu đã lợi dụng mặt hàng khẩu trang y tế đang khan hiếm trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp mà Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định về việc công bố dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra và đã ban hành Chỉ thị thực hiện các biện pháp cấp bách phòng chống dịch Covid-19, nhưng bị cáo Võ Ngọc Diễm C có hành vi gian dối, mặc dù không có khẩu trang y tế nhưng bị cáo Châu giả vờ bán khẩu trang y tế để chiếm đoạt của chị Mai Thị Ánh T số tiền 3.000.000 đồng và của chị Nguyễn Thị Hoài T số tiền 3.000.000 đồng, tổng số tiền chiếm đoạt là 6.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung “Lợi dụng dịch bệnh” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Điểm c khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng……
…
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
Xét tính chất vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo vệ, bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác đều bị pháp luật trừng trị. Bị cáo Võ Ngọc Diễm C là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức được hậu quả do mình gây ra nhưng đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đặc biệt, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong lúc tình hình dịch bệnh COVID-19 đang diễn biến hết sức phức tạp và khó lường trên phạm vi toàn cầu. Ở nước ta, số lượng người lây nhiễm SARS-CoV-2 cũng tăng rất nhanh, dịch bệnh lây lan trên diện rộng, đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe con người và kinh tế - xã hội của đất nước. Bởi lẽ đó, Nhà nước ta đã rất khẩn trương đề ra nhiều giải pháp cấp bách và rất quyết liệt nhằm ngăn chặn và đẩy lùi đại dịch như Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 27/3/2020 về quyết liệt thực hiện đợt cao điểm phòng, chống dịch bệnh Covid-19; tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID- 19. Bị cáo nhận thức được sự nguy hiểm của dịch bệnh, nhưng đã lợi dụng dịch bệnh để cố ý lừa bán khẩu trang y tế trên mạng xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống dịch bệnh trong giai đoạn này. Hành vi đó còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân nên cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm mới đảm bảo tính trừng trị, giáo dục đối với bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần vào ngày 04/3/2020 nên phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho phía các bị hại nên bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”,“Người phạm tội bồi thường thiệt hại” quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, rèn luyện bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho phía các bị hại và các bị hại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 thẻ ngân hàng (ATM) của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) số 9704180102575784 màu vàng, bề mặt in nổi dòng chữ “VO NGOC DIEM CHAU” của Võ Ngọc Diễm C đây là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chị Tô Thị Sương vào ngày 14/3/2020, bị cáo Võ Ngọc Diễm C đã bán khẩu trang y tế qua mạng chiếm đoạt của chị Sương 500.000 đồng và hiện nay chị Sương đã nhận lại số tiền 500.000 đồng và không yêu cầu gì nên hành vi không cấu tahnhf tội phạm và Viện kiểm sát không truy tố là có căn cứ do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 11/2021/LCĐKNCT-TA ngày 08 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị thời hạn còn lại là 18 ngày nên cần tiếp tục ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Võ Ngọc Diễm C.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Triệu Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc Diễm C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt:
VÕ NGỌC DIỄM C: 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 thẻ ngân hàng (ATM) của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) số 9704180102575784 màu vàng, bề mặt in nổi dòng chữ “VO NGOC DIEM CHAU” của Võ Ngọc Diễm C
(Vật chứng trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Phong, đặc điểm được thể hiện theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/5/2021 giữa Công an huyện Triệu Phong với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Phong) .
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Võ Ngọc Diễm C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - VKS, CA huyện T.Phong; - Chi Cục THADS huyện T.Phong; - THA Hình sự; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Phước HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |