vanban.org

Bản án 11/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu Tuyên án 21/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: ò Văn uý phạm tội: “Cướp giật tài sản”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo ò Văn uý 18 (Mười tám ) tháng tù. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Qúy - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: ò Văn uý phạm tội: “Cướp giật tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TU
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2021/HS-ST
Ngày: 21/12/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Giang Thị Vượng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Sùng A Sa và ông Tòng Văn Đại

- Thư ký phiên toà: Bà Thu u nh - Thư ký Toà án nhân dân huyện TU, tỉnh ai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU tham gia phiên toà: ng oàng

Văn Trư ng - Kiểm sát viên.

Ngày 21/12/2021 tại trụ s Tòa án nhân dân huyện TU, tỉnh ai Châu xét xử sơ thẩm c ng khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2021/TLST- HS ngày 10/12/2021 theo uyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2021/ ĐXXST-HS ngày 10/12/2021 đối với bị cáo:

ọ và tên: LÒ VĂN Q Tên gọi khác: kh ng; Sinh ngày: 07/02/1995, tại huyện TU, tỉnh ai Châu;

Nơi cư trú: Bản à 1, x Mường Kim, huyện TU, tỉnh ai Châu; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Thái; uốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Bố đẻ: ò Văn oan, sinh năm 1975; Mẹ đẻ: ò Thị Minh, sinh năm 1977, hiện bố mẹ bị cáo đều trú tại bản à 1, x Mường Kim, huyện TU, tỉnh ai Châu; Gia đình bị cáo có 03 anh, em; bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Tòng Thị Em, sinh năm 1995; trú tại: bản à 1, x Mường Kim, huyện TU, tỉnh ai Châu;

Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Kh ng;

Ngày 24/8/2021, ò Văn uý bị Tòa án huyện TU áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i, khoản 1 Điều 52; Điều 38 B S xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong thời gian chờ bản án có hiệu lực, ò Văn uý phạm tội mới.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ 18 giờ 20 phút ngày 01/9/2021, tạm giam từ ngày 10/9/2021, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ C ng an huyện TU ( Có mặt tại phiên tòa);

Người bị hại: Anh ò Văn sinh năm 1992; Nơi cư trú: Bản Chằm Cáy, x Hua Nà, huyện TU, tỉnh ai Châu (Vắng mặt - Có lý do);

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh u nh Minh T , sinh năm 1988; Nơi cư trú: Bản đội 9, x Phúc Than, huyện TU, tỉnh ai Châu (Vắng mặt - Có lý do);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 24/8/2021, ò Văn uý bị Tòa án huyện TU áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i, khoản 1 Điều 52; Điều 38 B S xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong thời gian chờ bản án có hiệu lực, ò Văn uý phạm tội mới, cụ thể như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 31/8/2021, tại nhà bản à 1, x Mường Kim, huyện TU, ò Văn uý mượn điện thoại của à Văn uang (người cùng bản) gọi cho lái xe taxi là anh ò Văn ả (SN: 1992, trú tại bản Chằm Cáy, x ua Nà, huyện TU). Qua điện thoại, uý thuê anh ả lái taxi đến đón uý (giữa Quý và anh ả kh ng quen biết nhau). Anh ả nhất trí và điều khiển xe t BKS: 25E- 000.27 đến đón uý tại bản à 1, x Mường Kim, huyện TU. Sau đó, uý và anh ả đi lên xã Trung Đồng, huyện Tân Uyên, tỉnh ai Châu, mục đích để đưa giấy khai sinh của con gái cho chị Tòng Thị Em (vợ uý). Sau khi xong việc, uý và anh ả quay về nhà. Khi đến bản à 2, x Mường Kim, huyện TU (cách nhà Quý 50 mét), lúc đó khoảng 23 giờ cùng ngày. uý bảo anh ả dừng xe. Anh ả báo anh cho Quý biết tiền cước taxi hết 400.000 đồng. Do kh ng có tiền trả, uý đ hỏi mượn điện thoại di động (nh n hiệu Xiaomi Mi 9T Pro) của anh ả để gọi cho anh ò Văn Trường (SN: 2003, trú cùng bản với uý) hỏi vay tiền nhưng anh Trường kh ng đồng ý. úc này, uý nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại di động của anh ả, mục đích để bán lấy tiền tiêu sài. Gọi điện thoại xong uý vẫn cầm điện thoại của ả trên tay và ngay lập tức uý m cửa xuống xe rồi đóng cửa xe lại và đi thẳng vào đường liên bản vào nhà anh à Văn Tận (SN: 1989, trú tại bản à 2, x Mường Kim) để ngủ. Do trời tối nên ả ngồi trong xe gọi uý quay lại nhưng uý vẫn tiếp tục đi. Sau đó, anh ả lấy điện thoại khác gọi vào máy điện thoại của ả do uý đang chiếm đoạt yêu cầu uý mang trả điện thoại, uý nghe máy và bảo "chờ tý". Sau đó, uý tắt nguồn điện thoại và ngủ lại nhà anh Tận. Đến sáng ngày 01/9/2021, Quý bắt xe m của anh ìm Văn Bình (SN: 1975, trú tại: bản Co Phày, x Mường Cang, huyện TU) xuống Đội 9, x Phúc Than, huyện TU và đi vào cửa hàng sửa chữa, mua bán điện thoại của anh u nh Minh Tuấn (SN: 1988, trú tại Đội 9, x Phúc Than, huyện TU). Tại đây, uý đ bán chiếc điện thoại cho anh Tuấn với giá 700.000 đồng. uý tháo lấy lại 02 sim Viettel trong điện thoại và cất vào túi quần. Khi bán điện thoại, uý kh ng nói cho anh Tuấn biết nguồn gốc chiếc điện thoại là do Quý cướp giật mà có. Sau đó, uý tiếp tục đi xe m của anh Bình lên Đội 11, xã Phúc Than, huyện TU tiêu sài hết số tiền 600.000 đồng, trong đó uý mua Hêrôin của một người kh ng quen biết sử dụng hết 100.000 đồng. Đến 18 giờ 20 phút ngày 01/9/2021, uý bị Công an huyện TU thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, thu giữ 01 ví da bên trong có số tiền 100.000 đồng (là tiền uý phạm tội mà có); 02 thẻ sim điện thoại Viettel và 01 danh thiếp h ng taxi Mai inh có tên nhân viên lái xe “ ả iền”.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra C ng an huyện TU đ phối hợp với Viện kiểm sát tiến hành cho anh ò Văn ả tiến hành nhận dạng. Kết quả anh ả đ nhận dạng đúng người cướp giật điện thoại là ò Văn uý.

uá trình điều tra, Cơ quan điều tra tạm giữ 01 điện thoại di động nh n hiệu Xiaomi Mi 9T Pro và 01 ốp điện thoại do uý mang bán tại cửa hàng của anh u nh Minh Tuấn. Tạm giữ 01 vỏ hộp điện thoại di động nh n hiệu Xiaomi Mi 9T Pro do anh ò Văn ả cung cấp.

Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 27/ Đ-ĐGTS ngày 08/9/2021 của ội đồng định giá tài sản huyện TU kết luận: 01 điện thoại di động nh n hiệu Xiaomi Mi 9T Pro trị giá 3.240.600 đồng, 02 sim điện thoại Viettel tổng trị giá 100.000 đồng, 01 ốp điện thoại trị giá 48.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Lò Văn uý cướp giật, chiếm đoạt của anh ò Văn ả là: 3.388.600 đồng.

-Về vật chứng vụ án: Đối với 01 điện thoại di động nh n hiệu Xiaomi Mi 9T Pro; 01 ốp điện thoại; 01 vỏ hộp điện thoại di động nh n hiệu Xiaomi Mi 9T Pro; 02 sim thẻ điện thoại Viettel, xác định đây là tài sản hợp pháp của anh ò Văn ả. Ngày 15/10/2021 Cơ quan CSĐT C ng an huyện TU đ ra uyết định xử lý vật chứng trao trả lại số tài sản trên cho anh ò Văn ả.

Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 01 chiếc ví da; 01 danh thiếp h ng taxi Mai inh có tên nhân viên lái xe “ ả iền”; số tiền 100.000 đồng thu giữ của ò Văn uý, hiện đang được lưu giữ tại Kho vật chứng C ng an huyện TU.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh ò Văn ả yêu cầu bị cáo trả cước taxi 400.000 đồng bị cáo đ thuê anh ả đưa bị cáo lên x Trung Đồng, huyện Tân Uyên. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh u nh Minh Tuấn không yêu cầu bị cáo ò Văn uý trả số tiền 700.000 đồng là tiền anh Tuấn đ mua điện thoại của bị cáo.

Tại bản cáo trạng số: 01/CT -VKS ngày 09/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TU đ truy tố bị cáo ò Văn uý về tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện TU trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị ội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo ò Văn uý phạm t i: “Cướp giật tài sản”

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 171 điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo ò Văn uý từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Đề nghị tổng hợp hình phạt 12 tháng tù về tội " Trộm cắp tài sản” tại bản án số 97/2021/HS-ST ngày 24/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện TU, tỉnh ai Châu, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cả hai bản án là từ 30 đến 36 tháng( Khấu trừ cho bị cáo 09 ngày tạm giữ theo bản án số 97/2021/HS-ST ngày 14/8/2021).Thời hạn thi hành hình phạt từ tính từ ngày 01/9/2021.

Đề nghị kh ng áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật hình sự; Về trách nhiệm dân sự bị hại anh ò Văn ả đ nhận lại tài sản và có yêu cầu bị cáo trả 400.000 đồng tiền cước taxi, anh u nh Minh Tuấn không yêu cầu bị cáo ò Văn uý hoàn trả số tiền đ bỏ ra mua điện thoại của bị cáo, đề nghị ội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện hoàn trả số tiền 400.000 đồng của bị cáo cho anh ò Văn L; Về vật chứng còn lại là: 01 chiếc ví da thu giữ của ò Văn uý tại phiên tòa bị cáo kh ng có nguyện vọng xin lại xét thấy đây là vật kh ng có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 danh thiếp h ng taxi Mai inh có tên nhân viên lái xe “ ả iền” là vật chứng cần lưu giữ hồ sơ; Về số tiền 100.000 đồng tịch thu của bị cáo là số tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung c ng quỹ nhà nước.

Bị cáo kh ng bổ sung ý kiến gì thêm, nhất trí và kh ng tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU tỉnh ai Châu.

ời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong ội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, ội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra C ng an huyện TU, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TU, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đ thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. uá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa bị cáo kh ng có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người tham gia tố tụng trong vụ án là bị hại ò Văn L, người liên quan anh u nh Minh Tuấn vắng mặt tại phiên tòa có lý do, trong hồ sơ vụ án có đầy đủ lời khai của họ đ được thu thập theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đ truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như đơn trình báo của bị hại, kết luận định giá tài sản, thư tín thu giữ và các tài liệu chứng cứ đ được thu thập trong hồ sơ vụ á như vậy có đủ cơ s khẳng định: Ngày 31/8/2021 ò Văn Q thuê xe Taxi do anh ò Văn L là lái xe tr ò Văn Qtừ huyện TU lên huyện Tân Uyên tỉnh ai Châu, trên đường quay về cụ thể Từ Tân Uyên về TU vào khoảng 23 giờ cùng ngày khi xe của anh ò Văn L đưa ò Văn Qvề đến địa phận bản à 2 x MK, cách nhà Qkhoảng 50 mét, Qyêu cầu anh L dừng xe lại, lúc này anh L vẫn chưa tắt máy t . Do kh ng có tiền để trả tiền cước Taxi nên Qđ hỏi mượn điện thoại của anh L để gọi điện cho anh ò Văn Trường, sinh năm 2003 bạn Qđể hỏi vay tiền nhưng anh Trường kh ng cho Qvay.

úc này ò Văn Qvẫn cầm điện thoại trên tay và đ nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại di động của anh ò Văn L . ò Văn Qbằng thủ đoạn lợi dụng lúc anh L kh ng để ý, Qm cửa xe và nhanh chóng mang theo chiếc điện thoại của anh L bỏ đi. Khi được anh L dùng thuê bao khác gọi đến số máy Qđang chiếm đoạt Qnói dối chờ em tí, sau đó Qtắt máy. Đến sáng 01/9/2021 Qđ mang chiếc điện thoại chiếm đoạt của anh Qmang bán cho u nh Minh Tuấn lấy 700.000 đồng tiêu sài cá nhân và mua ma túy sử dụng.

Như vậy bằng thủ đoạn sau khi có được tài sản và chủ động tạo ra s h để chủ s hữu tài sản kh ng chủ động được ò Văn Qđ thực hiện hành vi cướp giật, chiếm đoạt 01 điện thoại di động nh n hiệu Xiaomi Mi 9T Pro kèm 02 sim điện thoại Viettel và 01 ốp điện thoại trị có tổng trị giá 3.388.600 đồng của anh ả rồi nhanh chóng tẩu thoát.

ò Văn uý là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. ành vi chiếm đoạt tài sản có tổng giá trị là 3.388.600 đồng của bị cáo đ đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật hình sự. Như vậy khẳng định bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TU truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng đ trực tiếp xâm phạm đến quyền s hữu tài sản của anh ò Văn Lả được pháp luật bảo vệ, bị cáo đ lợi dụng sơ h thiếu cảnh giác của chủ s hữu tài sản, sau khi có được tài sản chủ động tạo ra s h rồi nhanh chóng tẩu thoát. Do đó, cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo đồng thời cũng để giáo dục phòng ngừa chung tại địa phương.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: uá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đ thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe nhưng kh ng chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà mắc vào tệ nạn x hội, nghiện chất ma túy, bị cáo đ bị Tòa án huyện TU xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong thời gian chờ bản án có hiệu lực ò Văn Qtiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới cho thấy sự coi thường bất chấp pháp luật của bị cáo. ội đồng xét xử sau khi quyết định hình phạt đối với tội Cướp giật tài sản còn phải áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự về việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh ò Văn ả đ được nhận lại tài sản, anh ả có yêu cầu bị cáo trả 400.000 đồng tiền cước taxi; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh u nh Minh Tuấn kh ng yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 700.000 đồng anh Tuấn đ mua điện thoại của bị cáo.

Đối với đề nghị của ò Văn ả yêu cầu bị cáo Quý trả cho anh ả số tiền 400.000 đồng; bị cáo uý nhất trí trả cho anh ả nên ội đồng xét xử ghi nhận nội dung thoả thuận trên.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo khó khăn, thu nhập kh ng ổn định. Do đó, ội đồng xét xử kh ng áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về biện pháp ngăn chặn: Tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo

Về vật chứng của vụ án và các vấn đề khác: 01 chiếc ví da thu giữ của ò Văn uý là vật chứng tại phiên tòa bị cáo kh ng có nguyện vọng xin lại xét thấy đây là vật kh ng có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 danh thiếp h ng taxi Mai inh có tên nhân viên lái xe “ ả iền” là vật chứng cần lưu giữ hồ sơ vụ án.

Về số tiền 100.000 đồng tịch thu của bị cáo là số tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung c ng quỹ nhà nước.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của ò Văn uý Công an huyện TU đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

Đối với anh u nh Minh Tuấn là người mua chiếc điện thoại do uý cướp giật mang bán. Anh ìm Văn Bình là người ch xe m cho Qmang bán điện thoại. uá trình điều tra xác định anh Tuấn, anh Bình kh ng biết tài sản Qmang bán là do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra, Viện kiểm sát kh ng đề cập xử lý là đúng.

Về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và anh ò Văn ả đ thỏa thuận được về nghĩa vụ hoàn trả , do vậy kh ng buộc bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo: ò Văn uý phạm tội: “Cướp giật tài sản”

1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo ò Văn uý 18 (Mười tám ) tháng tù.

Căn cứ khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt với bản án số 97/2021/HS-ST ngày 24/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện TU, tỉnh ai Châu xử phạt bị cáo ò Văn uý 12 ( Mười hai) tháng tù về tội " Trộm cắp tài sản" buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung có cả hai bản án là 30 ( Ba mươi) tháng tù. Khấu trừ cho bị cáo 09 ngày tạm giữ theo bản án số 97/2021/HS-ST ngày 24/8/2021.Thời hạn thi hành hình phạt từ tính từ ngày 01/9/2021.

2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 chiếc ví da; Tịch thu sung vào c ng quỹ Nhà nước số tiền 100.000 đồng ( Một trăm nghìn đồng); 01 danh thiếp h ng taxi Mai inh có tên nhân viên lái xe “ ả iền” là vật chứng cần lưu giữ hồ sơ vụ án.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13 tháng 12 năm 2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TU và Chi cục Thi hành án dân sự huyện TU, tỉnh Lai Châu).

3.Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589, 357 và 468 của Bộ luật dân sự. Ghi nhận sự thỏa thuận: Bị cáo Lò Văn uý có trách nhiệm hoàn trả cho bị hại à Văn ả số tiền 400.000 đồng ( Bốn trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21; điểm a, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm

[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân cấp trên. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết c ng khai./.

Cỡ chữ