vanban.org

Bản án 11/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 03/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Trương Văn L số tiền 50.

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet, 1100 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Herô. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn L - Vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trương Văn L số tiền 50.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2021/HS-ST
Ngày 03-02-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Huỳnh Như, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Đăng Kha - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 06/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:

Trương Văn L, sinh năm 1990 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú: Khu phố 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn A và bà Tô Thị S; bị cáo có vợ Phạm Thị C và 02 người con; tiền án: Không có; tiền sự: Không có, bị tạm giữ từ ngày 03/01/2021; đến ngày 06/01/2021 được trả tự do; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/01/2021 cho đến nay; có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Phạm Thị C, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Khu phố 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 03/01/2021, Trương Văn L nhận vận chuyển thuê thuốc lá điếu nhập lậu cho một người đàn ông tên H (chưa xác định được nhân thân, lý lịch) từ cửa khẩu X về khu vực thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh với giá là 1.000.000 đồng. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, L điều khiển xe mô tô biển số 35N1-8160 chạy lên khu vực cửa khẩu X gặp một người Campuchia tên A (chưa xác được nhân thân, lý lịch) để nhận thuốc lá điếu vận chuyển về giao cho H. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi L đang trên đường vận chuyển số thuốc lá nêu trên đến khu vực thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh thì bị Công an xã T phối hợp với Đội Cảnh sát kinh tế Công an huyện T, Đội Công tác địa bàn thuộc Đồn Biên phòng Cửa khẩu X và Chi cục Hải quan X bắt quả tang cùng tang vật gồm: 1.600 bao thuốc lá điếu (1.100 bao thuốc là điếu hiệu Hero, 500 bao thuốc lá điếu hiệu Jet) cùng nhiều tang vật khác.

Vật chứng vụ án: 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet, 1100 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Herô; 01 xe mô tô biển số 35N1-8160 (xe đã qua sử dụng) và 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Seri 1: 353148112750054 của bị cáo Trương Văn L.

Kê biên tài sản: Kê biên quyền sử dụng đất diện tích 295,5m2, thửa số 79, tờ bản đồ số 35, tọa lạc tại khu phố 3, thị trấn Tân Biên, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Đất được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sô CS04499 ngày 12/7/2017 cho Trương Văn L và Phạm Thị C.

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 06/QĐ-VKSTB, ngày 25 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Trương Văn L về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Văn L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” và đề nghị:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Văn L số tiền từ 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng đến 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị C vắng mặt.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Vào khoảng 12 giờ ngày 03/01/2021, Trương Văn L đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 35N1-8160 vận chuyển 1.600 bao thuốc lá điếu từ cửa khẩu Xvề thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Khi Trương Văn L đi đến tại địa bàn ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh thì bị Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi của bị cáo Trương Văn L đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 06/QĐ-VKSTB, ngày 25 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Trương Văn L về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước được pháp luật bảo vệ. Do đó cần xử bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục bị cáo và phục vụ cho công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó cần xử bị cáo mức án phạt tiền cũng đủ răn đe đối với bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng:

500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet, 1100 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Herô cần tịch thu tiêu hủy.

01 xe mô tô biển số 35N1-8160 (xe đã qua sử dụng) và 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Seri 1: 353148112750054 của bị cáo Trương Văn L, đây là phương tiện dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Xử lý đối với tài sản kê biên:

Cân tiếp tục giữ nguyên Lệnh kê biên tài sản số 01/L-ĐCSKT ngày 11/01/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đối với phần đất diện tích 295,5m2, thửa số 79, tờ bản đồ số 35, tọa lạc tại khu phố 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Đất được Sở T tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sô CS04499 ngày 12/7/2017 cho Trương Văn L và Phạm Thị C.

Cho đến khi bị cáo Trương Văn L thi hành xong khoản tiền phạt và án phí.

Về án phí: Bị cáo Trương Văn L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trương Văn L số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước về tội “Vận chuyển hàng cấm”.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet, 1100 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Herô.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô biển số 35N1-8160 (xe đã qua sử dụng) và 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Seri 1: 353148112750054 của bị cáo Trương Văn L.

3. Xử lý đối với tài sản kê biên:

Giữ nguyên Lệnh kê biên tài sản số 01/L-ĐCSKT ngày 11/01/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đối với phần đất diện tích 295,5m2, thửa số 79, tờ bản đồ số 35, tọa lạc tại khu phố 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Đất được Sở T tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sô CS04499 ngày 12/7/2017 cho Trương Văn L và Phạm Thị C.

Cho đến khi bị cáo Trương Văn L thi hành xong khoản tiền phạt và án phí.

4. Về án phí:

Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo Trương Văn L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ