- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2021/HS-ST Ngày: 31 - 5 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Trọn.
Ông Trần Minh Út.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hợp - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2021/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Vũ T, sinh ngày 01/01/1984 tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh C; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Hồ Thị T; chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị báo bị tạm giam từ ngày 05 tháng 3 năm 2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1947 (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn H:
Bà Hồ Thị T, sinh năm 1950 (có mặt).
Cư trú: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 10 tháng 01 năm 2021, sau khi nhậu xong, Nguyễn Vũ T đến nhà cha ruột là ông Nguyễn Văn H thuộc ấp Ba Tiệm, xã Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau để ăn cơm, lúc T ăn cơm thì giữa T và ông H xảy ra cự cải, ông H tức giận nên dùng cây gậy bằng tre đánh khoảng 4 đến 5 cái vào người T gây thương tích nhẹ. T chạy ra sân đến cặp vách hè nhà sau bẻ hai đoạn gỗ ông H dùng để làm sào phơi quần áo, gồm 01 đoạn gỗ tre và 01 đoạn gỗ bằng trâm bầu có nạn đôi ở một đầu, T cầm 02 cây gỗ đánh nhiều cái trúng vào đầu, mặt và hai tay ông H gây thương tích. Ông Nguyễn Văn H được mọi người đưa đi Bệnh viện huyện Cái Nước để điều trị, vụ việc sau đó được trình báo chính quyền địa phương. Quá trình điều tra bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 78/TgT-21 ngày 17 tháng 02 năm 2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Cà Mau kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn H gồm: 01 vết sẹo hình chữ “C” vùng má trái kích thước 0,5 cm x 0,4 cm, tỷ lệ 06%; 01 vết sẹo 1/3 giữa đến 1/3 dưới mặt sau ngoài cánh tay phải, kích thước 03 cm x 0,4 cm, tỷ lệ 02%; 01 vết sẹo 1/3 dưới mặt trong cẳng tay phải, kích thước 1,5 cm x 0,6 cm, tỷ lệ 01%; 01 vết sẹo từ 1/3 giữa đến 1/3 dưới mặt mặt trong cẳng tay trái, kích thước 08 cm x 0,5 cm, tỷ lệ 02%; Vở xoang hàm phải còn tụ dịch xoang hàm phải, tỷ lệ 13 %. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định tính theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế là: 22%, thương tích do vật tày hoặc vật tày có cạnh tác động lên bề mặt cơ thể làm tổn thương da, mô liên kết dưới da (Cân, cơ, xương) khi lành để lại thương tích như trên, sau khi điều trị để lại thương tích như trên.
Tại Cáo trạng số: 09/CT-VKS ngày 15/4/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân truy tố bị cáo T về tội: “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân vẫn giữ y quan điểm đã truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Vũ T đủ cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ T phạm tội “Cố ý gây thương tích”, về hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Qua quan điểm luận tội của Kiểm sát viên bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi và tội danh đã bị truy tố theo nội dung Cáo trạng đồng thời xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Tân, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình thu thập tài liệu chứng cứ, đánh giá chứng cứ, chứng minh phù hợp với quy định của pháp luật trong quá trình điều tra cũng như quá trình truy tố đủ điều kiện để đưa ra xét xử đối với các bị cáo.
[3] Qua xem xét toàn bộ nội dung vụ án, cho thấy: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay Nguyễn Vũ T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp kết luận giám định thương tích.
Xét hành vi thực hiện cho thấy, chỉ vì mâu thuẫn cá nhân mà bị cáo sử dụng bạo lực để giải quyết. Bị hại chính cha ruột của mình nhưng bị cáo cố ý sử dụng hung khí là đoạn gỗ tre và 01 đoạn gỗ trâm bầu gây ra thương tích cho ông H với tỉ lệ 22%. Động cơ gây thương tích cho ông H là nhằm mục đích thỏa mãn sự bực tức của bị cáo khi bị ông H la mắn và đánh bị cáo. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến khách thể là sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi bị cáo đủ tuổi theo luật định, quá trình hoạt động nhận thức diễn ra bình thường, đủ điều kiện để chịu trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất mức độ hậu quả hành vi cho thấy, ngoài việc xâm phạm sức khỏe người khác bị cáo còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây ra dư luận xấu trong xã hội, hậu quả xảy ra như trên là thể hiện ý chí mong muốn của bị cáo.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự, cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ mà bị cáo đã gây ra đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội, ngoài ra còn răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Nguyên nhân bị cáo phạm tội là do bản tính hung hăn, dù mâu thuẫn nhỏ nhặt nhưng bị cáo đã dùng hung khí để đánh bị hại gây thương tích cho thỏa mãn cơn bực tức của bản thân.
[4] Xét về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự. Bị cáo thực hiện hành vi gây thương tích cho ông H mặc dù ông H là người trên 70 tuổi theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ông H có đơn yêu cầu giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả với số tiền là 500.000 đồng, ông H không có yêu cầu thêm nên không đặt ra xem xét.
[6] Về vật chứng: Các vật chứng của vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Tân đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân quản lý để xử lý theo quy định. Xét thấy các vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch tiêu hủy là phù hợp.
[7] Đối với bị cáo Nguyễn Vũ T bị đánh nhưng thương tích không đáng kể, không yêu cầu xử lý hình sự và không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Tân không xử lý là phù hợp.
[8] Từ những phân tích và nhận định nêu trên xét thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ để chấp nhận toàn bộ.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 54 của Bộ luật hình sự. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày 05/3/2021.
3. Xử lý vật chứng:
Tịch thu và tiêu hủy: 01 đoạn gỗ tre dài 149 cm, đường kín 04 cm; 01 đoạn gỗ trâm bầu dài 161 cm, đường kính 05 cm có nạn đôi ở một đầu là hung khí T dùng để đánh ông H; 01 áo thun dài tay màu đen có dính nhiều vết màu nâu sẩm nghi là máu; 01 cây gỗ tre dài 0,9 m, đường kính 2,5 cm, đầu cây có 01 nạn vuông gốc với thân cây; 01 cây gỗ tre dài 2,3 m, đường kính 02 cm đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Buộc bị cáo Nguyễn Vũ T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo Nguyễn Vũ T, bà Hồ Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV & THA (TAND tỉnh Cà Mau); - Sở tư pháp tỉnh Cà Mau (khi có hiệu lực); - Chi cục THADS huyện Phú Tân (khi có hiệu lực); - VKSND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Phú Tân; - CAND huyện Phú Tân; - Những người tham gia tố tụng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sơn Ngọc Trọng |