- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Th và anh Bùi Văn Tr"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị Thuỷ.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2021/HNGĐ-ST Ngày: 14-9-2020. V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thông và bà Đặng Thị Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 24/2021/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Th, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Tổ dân phố 1, phường Nghĩa Thành, thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
Bị đơn: Anh Bùi Văn Tr, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Tổ dân phố 1, phường Nghĩa Thành, thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đặng Thị Thuỷ trình bày:
Chị Đặng Thị Th và anh Bùi Văn Tr đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Uỷ ban nhân dân phường Nghĩa Thành, thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông vào ngày 14 tháng 3 năm 2008 trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc. Quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn, thường xuyên cãi vã, gây gổ, đánh đập nguyên nhân phát sinh từ những vấn đề trong cuộc sống. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân ngột ngạt, không thể tiếp tục chung sống, chị Đặng Thị Th yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh Bùi Văn Tr.
Về con chung: Anh Bùi Văn Tr và chị Đặng Thị Th có 02 người con chung là cháu Bùi Phương Th, sinh ngày 20 tháng 8 năm 2011 và cháu Bùi Quang Tr, sinh ngày 18 tháng 5 năm 2009. Chị Th yêu cầu Toà án giao cả hai con cho chị nuôi dưỡng đến khi trưởng thành.
Về cấp dưỡng: Yêu cầu anh Tr cấp dưỡng với mức 1.000.000đ/tháng đối với mỗi cháu. Hình thức cấp dưỡng theo tháng, vào ngày 10 hàng tháng đến khi các con đủ 18 tuổi.
Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Bùi Văn Trọng trình bày:
Anh Bùi Văn Trọng thừa nhận lời khai của chị Đặng Thị Th là đúng, nhưng anh không đồng ý ly hôn vì thương hai con nhỏ.
Về con chung: Anh Bùi Văn Tr đồng ý giao hai con cho chị nuôi dưỡng đến khi trưởng thành.
Về cấp dưỡng: Đồng ý yêu cầu của chị Th.
Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, anh Bùi Văn Tr và chị Đặng Thị Th đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84, 85 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị Th.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về quan hệ hôn nhân và con chung, nên Tòa án xác định vụ án “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn có nơi cư trú tại tổ dân phố 1, phường Nghĩa Thành, thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông, vì vậy Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Th và anh Bùi Văn Tr kết hôn tự nguyện và có đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường Nghĩa Thành, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông vào ngày 14 tháng 3 năm 2008. Vào thời điểm kết hôn, cả chị Đặng Thị Th và anh Bùi Văn Tr đều tự nguyện và đã đủ tuổi kết hôn, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Đặng Thị Th và anh Bùi Văn Tr là hợp pháp. Nhận thấy, trong quá trình chung sống giữa chị Đặng Thị Th và anh Bùi Văn Tr thường xuyên xảy ra mâu thuẫn làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thị Th là có căn cứ, cần chấp nhận.
Về con chung: Chị Đặng Thị Th và anh Bùi Văn Tr có 02 người con chung là cháu Bùi Phương Th, sinh ngày 20 tháng 8 năm 2011 và cháu Bùi Quang Tr, sinh ngày 18 tháng 5 năm 2009. Hội đồng xét xử nhận thấy: Cả hai anh chị đều tự thoả thuận được vấn đề nuôi con. Chị Đặng Thị Th hiện có nơi cư trú rõ ràng, có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, có thể đảm bảo cuộc sống cho con. Đồng thời cháu Bùi Phương Th và cháu Bùi Quang Tr đều có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Vì vậy, việc giao cháu cho mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi trưởng thành là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Tr và chị Th tự nguyện thoả thuận mức cấp dưỡng là 1.000.000đ/tháng đối với mỗi cháu. Hình thức cấp dưỡng theo tháng, vào ngày 10 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 10 tháng 9 năm 2021 đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Nhận thấy việc thoả thuận là phù hợp nên cần chấp nhận.
Về tài sản và nợ chung: Chị Đặng Thị Th và anh Bùi Văn Tr không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ cần chấp nhận.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Đặng Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 147; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị Thuỷ.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Th ly hôn với anh Bùi Văn Tr;
1.2. Về con chung: Giao hai con chung là Bùi Phương Th, sinh ngày 20 tháng 8 năm 2011 và cháu Bùi Quang Tr, sinh ngày 18 tháng 5 năm 2009 cho chị Đặng Thị Th trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình; không được cản trở người không trực tiếp nuôi trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
1.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Bùi Văn Tr có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với mức 1.000.000đ/tháng đối với mỗi cháu. Hình thức cấp dưỡng theo tháng, vào ngày 10 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 10 tháng 9 năm 2021 đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
1.4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đặng Thị Th và anh Bùi Văn Tr không yêu cầu Toà án giải quyết.
2. Về án phí: Chị Đặng Thị Th phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007011 ngày 09 tháng 3 năm 2021 tại Cơ quan Thi hành án Dân sự thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã Ký |