vanban.org

Bản án 11/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" của bà Lê Thị Bích L đối với ông Lê Văn T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Bích L được ly hôn với ông Lê Văn T. (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 81, ngày 27 tháng 8 năm 1999 của Uỷ ban nhân dân xã P, huyện V (nay là phường P, quận L), thành phố Đà Nẵng) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" của bà Lê Thị Bích L đối với ông Lê Văn T."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" của bà Lê Thị Bích L đối với ông Lê Văn T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2021/HNGĐ-ST
Ngày 25 tháng 3 năm 2021
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thuận

Bà Lê Thị Nhớ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yên Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Bách - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 529/2020/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2020 về "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 529/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 529/2021/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bích L, sinh năm 1977; Địa chỉ: K104/28 đường L, tổ 48, phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1965; Địa chỉ: K104/28 đường L, tổ 48, phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn - bà Lê Thị Bích L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Lê Văn T xây dựng gia đình với nhau vào năm 1999, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện V (nay là phường P, quận L), thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng tôi chung sống tại số 249 đường Đ đến năm 2014 thì gia đình chúng tôi chuyển về tại địa chỉ K104/28 đường L, tổ 48, phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng để sinh sống. Vợ chồng chung sống không có hạnh phúc ngay từ khi mới kết hôn nhưng bản thân tôi vẫn tiếp tục cuộc hôn nhân vì các con. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, nguyên nhân là do chúng tôi bất đồng quan điểm sống, ông T không quan tâm và không có trách nhiệm với vợ con. Vợ chồng chúng tôi đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Nay tôi xác định tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông T.

Về quan hệ con chung: Tôi xác định tôi và ông Lê Văn T có 02 con chung tên Lê Thanh T1, sinh ngày 09/8/2000 và Lê Thanh H, sinh ngày 08/01/2004. Hiện nay, cả 02 con chung đều đang do tôi trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn, tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Thanh H, sinh ngày 08/01/2004 và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Đối với con Lê Thanh T1, sinh ngày 09/8/2000 đã trưởng thành nên không đề cập đến.

Về tài sản chung: Vợ chồng chúng tôi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng chúng tôi không có nợ chung.

* Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản hồi.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật. Đối với bị đơn, kể từ thời điểm thụ lý đến thời điểm trước khi mở phiên tòa đã không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định pháp luật.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; xử cho bà Lê Thị Bích L được ly hôn với ông Lê Văn T; giao con chung Lê Thanh H, sinh ngày 08/01/2004 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng; ông T không cấp dưỡng nuôi con; đối với con chung Lê Thanh T1, sinh ngày 09/8/2000 đã trưởng thành nên không đề cập đến; về tài sản chung bà L không yêu cầu giải quyết và về nợ chung không có nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là ông Lê Văn T đã được Tòa án thực hiện các thủ tục triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng đến lần thứ hai vẫn không có mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt đương sự nói trên.

Về nội dung vụ án: Theo nguyên đơn trình bày thì bà và ông Lê Văn T xây dựng gia đình với nhau vào năm 1999, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện V (nay là phường P, quận L), thành phố Đà Nẵng. Vợ chồng bà chung sống không hạnh phúc, thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Ông bà đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Nay bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thì thấy: Cuộc hôn nhân của bà Lê Thị Bích L và ông Lê Văn T là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Đến nay, bà L cho rằng mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không để kéo dài và không còn tình cảm với ông T nữa nên có quyền làm đơn khởi kiện xin ly hôn theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn, từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến khi xét xử ông Lê Văn T đều không có mặt theo triệu tập, thông báo của Toà án, không có ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, không tham gia các phiên hoà giải và cũng không tham gia phiên toà nên không có ý kiến lưu hồ sơ vụ án. Qua đó, thể hiện ông T đã không còn tha thiết với cuộc hôn nhân này, không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Kết quả xác minh tại địa phương cho thấy, vợ chồng bà L và ông T không xảy ra mâu thuẫn gì nhưng tại lời khai của con chung Lê Thanh H cho rằng “ba mẹ không có hạnh phúc, thường xuyên cãi vã nhau, ba tôi không quan tâm đến cuộc sống của mẹ và hai chị em tôi”. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng ông bà đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được; có kéo dài cuộc hôn nhân này cũng không đem lại kết quả nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Lê Thị Bích L là hợp tình hợp lý.

Về quan hệ con chung: Bà Lê Thị Bích L trình bày vợ chồng có 02 con chung tên Lê Thanh T1, sinh ngày 09/8/2000 và Lê Thanh H, sinh ngày 08/01/2004. Ly hôn, bà L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Thanh H, sinh ngày 08/01/2004, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con; riêng con chung Lê Thanh T1, sinh ngày 09/8/2000 đã trưởng thành nên không đề cập đến. Ông Lê Văn T không tham gia tố tụng nên không có ý kiến về vấn đề này. Xét nguyện vọng của bà L thì thấy, bà L và ông T có 02 con chung, cháu Lê Thanh T1 đã trưởng thành nên không đề cập đến, đối với cháu Lê Thanh H hiện nay được bà L là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Đồng thời Tòa án đã tiến hành lấy lời khai tham khảo ý kiến của cháu H theo quy định pháp luật, mong muốn của cháu được ở với mẹ là bà Lê Thị Bích L và để không làm xáo trộn cuộc sống của các cháu thì nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Thanh H của bà L là phù hợp.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Bích L trình bày tài sản chung vợ chồng tự thỏa thuận và nợ chung không có nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nguyên đơn phải chịu theo luật định.

Xét các đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp và đúng quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 63, 147, 227, 228, 235, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" của bà Lê Thị Bích L đối với ông Lê Văn T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Bích L được ly hôn với ông Lê Văn T.

(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 81, ngày 27 tháng 8 năm 1999 của Uỷ ban nhân dân xã P, huyện V (nay là phường P, quận L), thành phố Đà Nẵng)

2. Về quan hệ con chung: Bà Lê Thị Bích L và ông Lê Văn T có 02 con chung tên Lê Thanh T1, sinh ngày 09/8/2000 và Lê Thanh H, sinh ngày 08/01/2004.

Giao con chung Lê Thanh H, sinh ngày 08/01/2004 cho bà Lê Thị Bích L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; ông Lê Văn T không cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Lê Thanh T1, sinh ngày 09/8/2000 đã trưởng thành nên không đề cập đến.

Bên không trực tiếp nuôi con vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi về mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Bích L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo biên lai thu số 0002435 ngày 01/12/2020.

4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ