- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị B ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Văn V.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƢỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 11/2021/HNGĐ-ST Ngày: 05-4-2021 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƢỚC, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hoàng Oanh.
2. Bà Trần Thị Thu Thảo.
-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Thành –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 05 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 230/2020/TLST-HN ngày 07 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2021/QĐXXST-HN ngày 22 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số 1310, lô A2, chung cư HN, phường TCH, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt).
2.Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1971. Địa chỉ: Số 54 DQH, Phường C, quận GV, Thành phố Hồ Chí Minh. Là phạm nhân đang chấp hành án tại Trại giam MP, Cục 10 -Bộ Công an. Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn M, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2011, chị và anh V được sự chấp thuận của hai bên gia đình anh chị tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân Phường NT, quận GV, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 163 vào sổ quyển số 02 ngày 28-9-2011. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc tuy nhiên vợ chồng cũng có những mâu thuẫn nhỏ do không phù hợp tính tình và quan điểm sống nhưng vẫn khắc phục được. Đến năm 2014 thì anh V vi phạm pháp luật và đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam MP. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Nguyễn Văn V.
Về nuôi con chung: Quá trình sống chung, anh chị có một con chung Nguyễn Huy H, sinh ngày 19-11-2011. Hiện nay cháu H đang sống cùng chị, khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
*Tại bản tự khai anh Nguyễn Văn V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị B kết hôn năm 2011 đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân Phường NT, quận GV, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Anh đang chấp hành án tại Trại giam MP, Cục C10. Nay chị B xin ly hôn anh đồng ý.
Về nuôi con chung: Quá trình sống chung, anh chị có một con chung Nguyễn Huy H, sinh ngày 19-11-2011. Hiện nay, cháu Huy H đang sống cùng chị B. Khi ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị B tranh chấp yêu cầu ly hôn, nuôi con chung với bị đơn anh Nguyễn Văn V, hiện nay anh V đang chấp hành án tại Trại giam MP, địa chỉ: Khu phố N, thị trấn M, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị B và bị đơn anh Nguyễn Văn V có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Văn V kết hôn năm 2011 có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân Phường NT, quận GV, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn; quan hệ hôn nhân giữa chị B và anh V là hôn nhân hợp pháp. Xét tình cảm giữa chị B và anh V sống chung hạnh phúc mặc dù có những mâu thuẫn nhỏ do bất đồng quan điểm sống, không phù hợp tính tình. Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc đến năm 2014 thì anh V vi phạm pháp luật và đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam MP cho đến nay. Nay chị B xin ly hôn anh V đồng ý, điều đó chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị B.
Về nuôi con chung: Quá trình sống chung, anh chị có một con chung Nguyễn Huy H, sinh ngày 19-11-2011. Hiện nay cháu H đang sống cùng chị B. Anh V cũng đồng ý giao con chung cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng, Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay cháu H đang sống ổn định cùng chị B, chị B có chỗ ở ổn định và có nguồn thu nhập đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu H, cháu H có nguyện vọng sống cùng chị B nên cần thiết tiếp tục giao cháu H cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng để ổn định cuộc sống và tâm lý cho cháu H. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị B, giao con chung Nguyễn Huy H cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng. Anh V được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị B không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải chịu án phí HNST theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56. Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Văn V.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Huy H, sinh ngày 19-11-2011 cho chị Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh Nguyễn Văn V được quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Văn V chưa phải đóng góp nuôi con chung do chị Nguyễn Thị B chưa có yêu cầu.
3.Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
4.Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí HNST được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 20645 ngày 07-10-2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Chị B đã nộp đủ án phí HNST.
5. Quyền kháng cáo: Chị B, anh V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Tiền Giang; -VKSND huyện Tân Phước; -Chi cục THADS huyện Tân Phước; -Các đương sự; -UBND Phường NT, quận GV, Thành phố Hồ chí Minh; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Thuyền |