vanban.org

Bản án 11/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phạm Thị Tuyết H về việc yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Nhật L.

Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Tuyết H được ly hôn với ông Nguyễn Nhật L. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Bảo N, sinh ngày 07/12/2018, hiện con chung đang sống với bà H cho bà Phạm Thị Tuyết H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Nhật L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Tuyết Hồng - Ly hôn - Nguyễn Nhật Linh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phạm Thị Tuyết H về việc yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Nhật L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HUỆ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 09-3-2021
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lữ Minh Luân.

2. Ông Phạm Văn Ven.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Minh Vũ - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

Ngày 08 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 268/2020/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2021/QĐXX-ST ngày 12 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Tuyết H - Sinh năm 1993 - Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh L. (Vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Nhật L - Sinh năm 1996 - Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh L. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 07/9/2020, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn bà Phạm Thị Tuyết H trình bày: Bà và ông Nguyễn Nhật L cưới nhau vào năm 2017 và có đăng ký kết hôn ngày 0767/2017 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh L. Vợ chồng sống chung hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cãi vã. Bà và ông L ly thân từ tháng 02 năm 2019 cho đến nay.

Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Nhật L.

Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Bảo N, sinh ngày 07/12/2018, hiện con chung đang sống với bà H. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Về chia tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyên đơn bà Phạm Thị Tuyết H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Nhật L vắng mặt tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền: Bà Phạm Thị Tuyết H khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Nhật L có hộ khẩu thường trú và hiện đang cư trú tại ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh L, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. [2] Về tố tụng: Ông Nguyễn Nhật L được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án số 268/TB-TLVA ngày 11/11/2020, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải số 319/TB-TA ngày 11/11/2020 nhưng ông L không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của ông, không có mặt để tham gia phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của bà H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông L không được quyền khiếu nại về việc cung cấp chứng cứ, tham gia phiên hòa giải, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên tòa vì ông đã không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông theo quy định pháp luật. Nguyên đơn bà Phạm Thị Tuyết H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Nhật L vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xét đơn khởi kiện của bà H theo khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [3] Về nội dung: Bà H và ông L chung sống có đăng ký kết hôn ngày 07/6/2017 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh L. Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông L là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình. [3.1] Xét yêu cầu ly hôn của bà H, Hội đồng xét xử nhận định: Bà H và ông L đều không cung cấp chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình về nguyên nhân mâu thuẫn, tuy nhiên xét vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau nên vợ chồng thường xuyên cãi vã. Mâu thuẫn giữa bà H và ông L đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tự mỗi người lo cho bản thân, quan hệ vợ chồng chấm dứt từ khi ly thân tháng 02 năm 2019 cho đến nay. Do đó, việc bà H yêu cầu ly hôn là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung: Xét bà H và ông L có 01 con chung tên Nguyễn Bảo N, sinh ngày 07/12/2018, hiện các con chung đang sống với bà H. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Xét thấy, yêu cầu nuôi con chung của bà H phù hợp. Vì hiện cháu N đang sống với bà H và do bà H trực tiếp nuôi dưỡng từ khi ly thân cho đến nay, việc giao con chung Nguyễn Bảo N cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét việc bà H không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung như đơn khởi kiện ngày 07/9/2020 (theo bản tự khai ngày 30/11/2020) là tự nguyện và phù hợp quy định tại các Điều 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà H trình bày không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp, sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xét thấy: Bà H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp. Ông L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 56, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phạm Thị Tuyết H về việc yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Nhật L.

1. Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Tuyết H được ly hôn với ông Nguyễn Nhật L.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Bảo N, sinh ngày 07/12/2018, hiện con chung đang sống với bà H cho bà Phạm Thị Tuyết H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Nhật L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông L được quyền thăm nom và chăm sóc con chung. Khi cần thiết vì lợi ích con chung, bà H và ông L có quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con và yêu cầu thay đổi khoản cấp dưỡng nuôi con theo luật hôn nhân và gia đình. 3. Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. 4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị Tuyết H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn, khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo biên lai thu số 0008863 ngày 11/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ). Bà H đã nộp đủ tiền án phí. 5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ