vanban.org

Bản án 11/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh H V V về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh H V V được ly hôn chị Đ T T. Về con chung: Giao cho anh H V V là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung H G H, sinh ngày 21/10/2018 đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung, Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh H V V ly hôn chị Đ T T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh H V V về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM HÀ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 11/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 08 -12-2021
“V/v: Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ - TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Việt Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Lƣơng Văn Sinh vµ ông Chu Vinh Quang.

Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Minh Thu - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà tham gia phiên toà: bà Vũ Đức Hạnh Quyên, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 41/2021/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2021 về việc: “Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2021, theo quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2021/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2021; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh H V V, sinh năm 1987.

Bị đơn: Chị Đ T T, sinh năm 1991.

Đều có địa chỉ: phố Hoàng Văn Thụ, thị trấn Đầm Hà, huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh.

Cả hai đương sự cùng có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/6/2021, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh H V V trình bày:

Về tình cảm: Anh và chị Đ T T được tự do tìm hiểu, tự nguyện về chung sống và có đăng ký kết hôn tại U ban nhân dânthị trấn Đ H, huyện Đ H, tỉnh Q N năm 2018. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị về chung sống cùng mẹ anh tại phố H V T, thị trấn Đ H, huyện Đ H, tỉnh Q N. Tình cảm vợ chồng hòa thuận được thời gian ngắn, đến cuối năm 2020 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh đi làm, Chị T ở nhà trông con đã nghi ngờ anh không chung thủy với chị và mâu thuẫn giữa mẹ chồng nàng dâu. Đến tết năm 2021 vợ chồng xảy ra đánh chửi nhau sau đó Chị T đã bỏ ra ngoài thuê nhà ở. Nay tình cảm không còn, anh vẫn giữ quan điểm ly hôn Chị T.

Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là cháu H G H, sinh ngày 21/10/2018. Sau khi ly hôn anh nhận nuôi cháu Hưng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), anh không yêu cầu Chị T cấp dưỡng vì từ ngày Chị T ra ở riêng anh và mẹ anh nuôi cháu Hưng ăn học đầy đủ, Chị T cũng không đưa tiền cho anh để nuôi con.

Về tài sản và khoản nợ chung: Anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Đ T T trình bày:

Về tình cảm: Quá trình tìm hiểu và đăng ký kết hôn giữa chị và Anh V đúng như Anh V trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tình cảm hòa thuận đến cuối năm 2020 Anh V có người phụ nữ khác bên ngoài nên về nhà vợ chồng cãi chửi nhau, Anh V đã đuổi chị, hiện chị thuê nhà ở riêng. Nay Anh V có yêu cầu ly hôn chị đồng ý vì hai người đã có mâu thuẫn, vợ chồng không còn tình cảm, sống ly thân đã lâu không ai quan tâm đến ai.

Về con chung: Chị và Anh V có 01 con chung là cháu H G H, sinh ngày 21/10/2018. Sau khi ly hôn chị nhận nuôi cháu Hưng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), yêu cầu Anh V cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng 3.000.000đ (ba triệu đồng) cho đến khi cháu Hưng đủ 18 tuổi.

Về tài sản và khoản nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai của bà N T Th là mẹ Anh V trình bày: Anh V và Chị T xảy ra mâu thuẫn là do Anh V đi làm, Chị T ở nhà trông con nhỏ nhưng nghi ngờ Anh V ngoại tình nên vợ chồng xảy ra đánh chửi nhau, sau đó Chị T đã bỏ ra ở riêng. Từ ngày Chị T bỏ nhà ra ở riêng bà và Anh V vẫn chăm sóc cháu Hưng, hàng ngày bà đưa đón cháu đi học, chăm sóc cháu chu đáo, hàng tháng Anh V vẫn đưa tiền để bà chăm sóc, đóng học phí cho cháu Hưng và chi tiêu trong gia đình.

Tại biên bản xác minh ngày 15/10/2021 đại diện khu phố nơi Anh V Chị T chung sống cung cấp thông tin: Vợ chồng Anh V, Chị T trong thời gian sống chung tình cảm không hòa thuận, hay xảy ra cãi chửi nhau, Chị T đã nhờ khu phố can thiệp về tình cảm của vợ chồng anh chị, hiện tại Chị T không ở cùng nhà với Anh V. Anh V và Chị T có 01 con chung, hiện Anh V và mẹ Anh V đang chăm sóc, nuôi dưỡng cháu.

Tại các buổi hòa giải ngày 07/9/2021, ngày 25/10/2021 cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đều thống nhất thuận tình ly hôn nhưng cả hai đều có nguyện vọng được nuôi con chung, hai đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản và khoản nợ chung.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà phát biểu quan điểm như sau:

Về việc tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án và xác định quan hệ pháp luật đúng qui định của pháp luật;

Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của anh H V V về việc: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”.

+ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh H V V được ly hôn chị Đ T T,

+ Về con chung: Giao cho anh H V V tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu H G H, sinh ngày 21/10/2018 cho đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị Đ T T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng Anh V.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra tại phiên Tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền gi i quy t v án Yêu cầu khởi kiện của anh H V V về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của anh H V V, Hội đồng xét xử thấy:

- Về tình c m Căn cứ vào lời khai của đương sự, nội dung biên bản xác minh tại địa phương có cơ sở xác định: Sau khi kết hôn, Anh V và Chị T về chung sống tình cảm hòa thuận chỉ được thời gian ngắn, đến cuối năm 2020 vợ chồng anh chị xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do Chị T nghi ngờ Anh V không chung thủy với chị khi đi làm nên vợ chồng xảy ra đánh chửi nhau, Anh V nóng lên đã đuổi Chị T ra khỏi nhà và Chị T đã phải nhờ khu phố can thiệp cho cuộc sống của chị, sau đó chị đã ra ở riêng cho đến nay, hai anh chị không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa.

Xét cuộc sống chung giữa Anh V và Chị T không còn sự yêu thương quý trọng, chăm sóc, quan tâm lẫn nhau trong thời gian dài, cuộc hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại các buổi hòa giải và tại phiên tòa hôm nay Anh V và Chị T cùng thống nhất thuận tình ly hôn, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận sự thỏa thuận về thuận tình ly hôn của Anh V, Chị T.

- Về con chung Anh V và Chị T có 01 con chung tên H G H, sinh ngày 21/10/2018. Anh V nhận nuôi con sau ly hôn và không yêu cầu Chị T cấp dưỡng, Chị T cũng nhận nuôi con sau ly hôn và yêu cầu Anh V cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng 3.000.000đ (ba triệu đồng) kể từ khi ly hôn cho đến khi cháu Hưng đủ 18 tuổi.

Hội đồng xét thấy từ khi Chị T bỏ nhà ra ở ngoài, Anh V và mẹ Anh V vẫn nuôi dưỡng cháu Hưng ăn học, phát triển đầy đủ, thể chất bình thường. Tại lời khai của Chị T thể hiện chị đang đi làm công nhân của Công ty TNHH HOA LỢI ĐẠT (VIỆT NAM) tại khu công nghiệp texhong Hải Hà, hàng ngày chị đi làm giờ hành chính từ 06 giờ sáng đến 06 giờ tối, thu nhập bình quân mỗi tháng khoảng bảy triệu đồng, phải thuê nhà để ở, hiện nay chị vẫn nhờ mẹ chồng chăm sóc, đưa đón cháu Hưng đi học. Tại lời khai của Anh V và bà Thuận là mẹ Anh V thể hiện từ ngày Chị T bỏ nhà ra đi Anh V và bà Thuận trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hưng, cháu hiện nay đang theo học tại trường Mầm non thị trấn Đầm Hà, thường ngày bà nội đưa đón cháu đi học, thu nhập của Anh V mỗi tháng khoảng 15 triệu đồng, hàng tháng Anh V đưa cho mẹ khoảng 10 triệu đồng để lo cho cháu Hưng và gia đình.

Xét thấy hiện tại Anh V có điều kiện chăm sóc cháu Hưng hơn Chị T cả về vật chất, tinh thần, từ ngày Chị T thuê nhà ở ngoài Anh V và mẹ Anh V vẫn chăm sóc cháu đầy đủ về mọi mặt và không để thay đổi môi trường sống của cháu Hưng làm ảnh hưởng đến tâm lý của cháu nên cần tiếp tục giao cho Anh V là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hưng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) là hợp lý, Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con cùng Anh V và có quyền thăm nom con chung.

- Về tài s n và kho n nợ chung: Cả hai đương sự đều trình bày tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

. Về án phí: Anh V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

ơ

Căn cứ vào Điều 56; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh H V V về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh H V V được ly hôn chị Đ T T.

2. Về con chung: Giao cho anh H V V là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung H G H, sinh ngày 21/10/2018 đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung, Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh H V V phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) Anh V đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số 0008559 ngày 20/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Hà.

Án xử sơ thẩm công khai có mặt nguyên đơn, bị đơn. Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ