- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án hôn nhân sơ thẩm"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của anh Phạm Nhựt T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2021/HNGĐ-ST. Ngày: 17-3-2021. V/v “Tranh chấp ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Lê Thị Trúc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/. Ông Thạch Thanh Long.
2/. Ông Nguyễn Tự Tín.
Thư ký phiên tòa: ông Đinh Văn Dư –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Càng Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long tham gia phiên tòa: ông Huỳnh Thanh Huấn-Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2021/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 01 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2021/QĐXXST-HN ngày 01 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: anh Phạm Nhựt T, sinh năm 1986 (có đơn xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Bị đơn: chị Lê Thị H, sinh năm 1981 (có đơn xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Con chung của anh T và chị H tên: Phạm Nhựt K, sinh ngày 03/12/2003. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án anh Phạm Nhựt T trình bày: anh và chị H tự tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân, được hai bên tổ chức đám cưới tháng 12 năm 2002, có đăng ký kết hôn quá hạn tại Ủy ban nhân dân xã T vào ngày 25/12/2017, nữ trang ngày cưới tổng cộng 04 chỉ vàng 24kra và 08 phân vàng 18kra, số nữ trang này vợ chồng đã đồng ý bán tiêu xài hiện nay không còn, vợ chồng sống hạnh phúc được 17 năm, nhưng gần đây nhất vào năm 2015 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn cứ kéo dài mãi mà không thể nào hàn gắn được, nên vợ chồng đã ly thân từ ngày đó cho đến nay.
Về con chung: Qúa trình chung sống vợ chồng sinh được 01 người con chung tên Phạm Nhựt K, sinh ngày 03/12/2003 hiện đang sống chung với chị H.
Về tài sản chung: 01 căn nhà cấp 4 cất trên đất cha mẹ ruột anh, hiện tại chị H đang ở.
Về nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có thiếu nợ ai và cũng không có ai nợ vợ chồng anh.
Nay anh yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: anh xin được ly hôn với chị Lê Thị H.
- Về con chung tên: Phạm Nhựt K, sinh ngày 03/12/2003 hiện đang sống chung với chị H, sau khi ly hôn theo nguyện vọng của con sống với ai người đó nuôi dưỡng, không đặt vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: anh và chị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai chị Lê Thị H là bị đơn trình bày: Chị là vợ của anh Phạm Nhựt T, chị hoàn toàn thống nhất lời trình bày của anh T về hôn nhân, nữ trang, con chung là đúng sự thật, về tài sản chung 01 căn nhà cấp 4 cất trên đất cha mẹ chồng và 02 công rưỡi ruộng hiện chị và con đang quản lý sử dụng. Sau ngày cưới sống bên cha mẹ chồng được 01 năm ra ở riêng trên đất cha mẹ chồng cho tại ấp T, xã T, vợ chồng sống hạnh phúc được 12 năm thì phát sinh mâu thuẫn do anh T ăn chơi không lo làm ăn và vợ chồng ly thân khoảng 03 năm mạnh ai nấy sống.
Nay về quan hệ hôn nhân chị đồng ý ly hôn với anh Phạm Nhựt T, về con chung tên Phạm Nhựt K, sinh ngày 03/12/2003 hiện đang sống chung với chị H, sau khi ly hôn theo nguyện vọng của con sống với ai người đó nuôi dưỡng, không đặt vấn đề cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung chị và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.
Tại biên bản lấy lời khai cháu Phạm Nhựt K là con của anh T và chị H trình bày: Cháu là con của ông Phạm Nhựt T và bà Lê Thị H, cháu học lớp 12 trường trung học phổ thông Dương Háo H hiện đang sống chung với mẹ, sau khi cha mẹ ly hôn nguyện vọng của cháu muốn được sống chung với mẹ là bà Lê Thị H.
Vụ kiện đã được Tòa án tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng chị Lê Thị H vắng mặt do đó không tiến hành phiên hòa giải được và quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay anh Phạm Nhựt T là nguyên đơn, chị Lê Thị H là bị đơn, cháu Phạm Nhựt K là con của anh T và chị H, tất cả đều vắng mặt có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long trình bày quan điểm cho rằng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý đến thời điểm này Thẩm phán đã chấp hành đúng theo Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời gian ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát, cấp và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng, đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử thực hiện đầy đủ và đúng theo trình tự pháp luật quy định của phiên tòa sơ thẩm.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên phía bị đơn chị Lê Thị H chưa chấp hành nghiêm quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự cụ thể chị Lê Thị H không có mặt trong các phiên hòa giải, công khai chứng cứ mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ.
Về nội dung vụ kiện Vị đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy đinh tại các Điều 19, 51, 55, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình;
Khoản 1 Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của anh Phạm Nhựt T.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Phạm Nhựt T và chị Lê Thị H được ly hôn.
- Về con chung: chị Lê Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phạm Nhựt K, sinh ngày 03/12/2003.
Anh Phạm Nhựt T được quyền thăm và chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Lê Thị H chưa có yêu cầu nên không xem xét.
- Về tài sản chung, về nợ chung: Các đương sự chưa yêu cầu, nên không xem xét.
Vị còn đề nghị buộc anh Phạm Nhựt Trường có nghĩa vụ chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên Tòa hôm nay anh Phạm Nhựt T là nguyên đơn, chị Lê Thị H là bị đơn, cháu Phạm Nhựt K là con của anh T và chị H, tất cả đều vắng mặt có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử.
Về xác định quan hệ tranh chấp: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thì đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dụng vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của anh Phạm Nhựt T và chị Lê Thị H được xác lập vào năm 2002 có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn quá hạn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C vào ngày 25/12/2017 đúng quy định của pháp luật. Đây là tình tiết không cần phải chứng minh được quy định tại khoản 1 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, từ đó xác định hôn nhân giữa anh T và chị H là hôn nhân hợp pháp.
Xét về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo anh T cho rằng vợ chồng sống hạnh phúc được 17 năm, nhưng gần đây nhất vào năm 2015 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn cứ kéo dài mãi mà không thể nào hàn gắn được, nên vợ chồng đã ly thân từ ngày đó cho đến nay. Chị H cho rằng vợ chồng sống hạnh phúc được 12 năm thì phát sinh mâu thuẫn do anh T ăn chơi không lo làm ăn và vợ chồng ly thân khoảng 03 năm mạnh ai nấy sống.
Nay anh T và chị H đều xác nhận vợ chồng không còn tình cảm với nhau và đều có nguyện vọng được ly hôn; Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị H là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của anh T là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Về con chung tên: Phạm Nhựt K, sinh ngày 03/12/2003 hiện đang sống chung với chị H, theo lời trình bày của anh T và chị H thống nhất theo nguyện vọng của cháu K sống với ai người đó nuôi dưỡng, mặt khác theo nguyện vọng của cháu K muốn được sống với chị H, từ đó nghĩ nên giao chị H được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu K sau khi ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình. Anh Phạm Nhựt T có quyền thăm nom chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H chưa có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Anh T và chị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
Về nợ chung: Các đương sự chưa yêu cầu, nên không xem xét.
Về án phí: anh Phạm Nhựt T có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 19, 51, 53, 54, 55, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình;
Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của anh Phạm Nhựt T.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Phạm Nhựt T và chị Lê Thị H được ly hôn.
- Về con chung: chị Lê Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phạm Nhựt K, sinh ngày 03/12/2003.
Anh Phạm Nhựt T được quyền thăm và chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự chưa có yêu cầu nên không xem xét.
- Về tài sản chung, về nợ chung: Các đương sự chưa yêu cầu, nên không xem xét.
- Về án phí: anh Phạm Nhựt T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2020/0004067, ngày 30/12/2020 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Càng Long thu, anh Phạm Nhựt T đã nộp đủ tiền án phí, chị Lê Thị H không phải nộp án phí.
2. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh. -VKSND huyện, tỉnh. -CCTHADS huyện. -Các đương sự. -Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký tên và đóng dấu) Lê Thị Trúc Linh |