vanban.org

Bản án 11/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị L được ly hôn với ông Phạm Thế H.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Đinh Thị L và ông Phạm Thế H có con 01 con chung là Phạm Thành T, nhưng anh Tđã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung và công nợ chung: Bà Đinh Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: ĐINH THỊ L - BĐ: PHẠM THẾ H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị L được ly hôn với ông Phạm Thế H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG BÚK
TỈNH ĐẮK LẮK
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 29/9/2021
V/v “Tranh chấp Hôn nhân và gia
đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoa Lý.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Y Mưng Niê;

2. Ông Nguyễn Ngọc Thọ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Toản - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2021 tại Hội trường B Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2021/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2021 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06 tháng 9 năm 2021, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Đinh Thị L, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

2. Bị đơn: Ông Phạm Thế H, sinh năm 1960 (Đã bị Tòa án tuyên bố mất tích). Nơi cư trú cuối cùng: Thôn H, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai, như tại phiên tòa nguyên đơn bà Đinh Thị Lài trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị L và ông Phạm Thế H kết hôn taïi Ủy ban nhân dân xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 18/9/2001. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc, đến năm 2009 hai vợ chồng phát sinh mẫu thuẫn, đến năm 2010 thì mâu thuẫn trở nên trầm trọng nên ông H đã bỏ đi khỏi địa phương không có tin tức gì. Vì vậy, bà L đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Thế H mất tích, để có căn cứ giải quyết việc ly hôn. Theo yêu cầu của bà Đinh Thị L, tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2021/QĐDS-ST ngày 01/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk đã tuyên bố ông Phạm Thế H mất tích. Nay bà Đinh Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Phạm Thế H.

Về con chung: Trong thời gian chung sống bà L và ông H có 01 con chung tên là Phạm Thành T, sinh năm 2002, hiện nay anh T đã trưởng thành nên bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đinh Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đúng quy định của pháp luật. Đối với những người tham gia tố tụng nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; bị đơn ông Phạm Thế H đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, vì vậy việc xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Ý kiến quan điểm của Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk về việc giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa hôm nay thì nhận thấy giữa bà L và ông H có mâu thuẫn trầm trọng, ông H đã bỏ đi khỏi địa phương nơi cư trú và đã bị Tòa án tuyên bố mất tích. Theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, cho bà L được ly hôn với ông H. Về con chung: Trong quá trình chung sống bà L và ông H có 01 con chung là Phạm Thành T sinh năm 2002, hiện nay anh T đã trưởng thành nên bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung cũng như nợ chung nguyên đơn bà L không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết. Về án phí nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả thảo luận của Hội đồng xét xử tại phiên tòa, quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về tố tụng dân sự: Bà Đinh Thị L có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Krông Búk giải quyết việc ly hôn với ông Phạm Thế H. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk. Bị đơn ông Phạm Thế H đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, vì vậy việc xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị L và ông Phạm Thế H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào năm 2001. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa bà Đinh Thị L và ông Phạm Thế H là hợp pháp, sau khi kết hôn một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên vào năm 2010 ông H đã bỏ đi khỏi địa phương nơi cư trú. Theo yêu cầu của bà L, tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2021/QĐDS-ST ngày 01/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk đã tuyên bố ông Phạm Thế H mất tích. Vì vậy xét yêu cầu xin ly hôn của Đinh Thị L là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

. Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Đinh Thị L và ông Phạm Thế H có con 01 con chung là Phạm Thành T, anh T đã trưởng thành và bà L cũng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đinh Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

. Về án phí: Bà Đinh Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị L được ly hôn với ông Phạm Thế H.

2. Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Đinh Thị L và ông Phạm Thế H có con 01 con chung là Phạm Thành T, nhưng anh Tđã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

3. Về tài sản chung và công nợ chung: Bà Đinh Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Bà Đinh Thị L phải chịu 300.000đ( Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 60AA/2021/0003675 ngày 23/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.

5. Về quyền kháng cáo: Đinh Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Phạm Thế H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nôi nhaän:

Cỡ chữ