vanban.org

Bản án 11/2021/HNGĐ-PT — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 22/11/2021 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về con chung: Căn cứ vào các Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về án phí phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh Dương Công H không phải c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị T-Dương Công H"
  • Tòa quyết gì? Về con chung: Căn cứ vào các Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2021/HNGĐ-PT
Ngày 22-11-2021
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa

Các Thẩm phán: Bà Chu Lệ Hường

Ông Hồ Đức Châm

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2021/TLPT-HNGĐ, ngày 15 tháng 10 năm 2021 về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 28/2021/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 12/2021/QĐ-PT ngày 08 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1988. Nơi đăng ký thường trú: Thôn M, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Dương Công H, sinh năm 1983. Cư trú tại: Thôn M, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- Người kháng cáo: Anh Dương Công H là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án dân sự sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Hoàng Thị T và anh Dương Công H chung sống vợ chồng cùng nhau từ năm 2010, trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu nhau, có cưới hỏi theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn ngày 13-12-2010 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi về chung sống được vài năm thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Chính vì vậy, từ năm 2020 hai người đã sống ly thân nhau, hai bên không còn tình cảm vợ chồng với nhau nên chị Hoàng Thị T yêu cầu được ly hôn với anh Dương Công H. Trong quá trình chung sống, anh chị có 01 con chung là cháu Dương Thị Khánh H, sinh ngày 01-5-2012, hiện cháu đang ở với chị Hoàng Thị T. Trước đây, cả hai anh chị đều làm công nhân tại B, thu nhập hàng tháng của chị Hoàng Thị T từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng; thu nhập hàng tháng của anh Dương Công H từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng. Do bùng phát dịch Covod - 19, chị Hoàng Thị T đã nghỉ việc, ở nhà làm nội trợ; anh Dương Công H về làm công nhân tại Nhà máy xi măng L. Chị Hoàng Thị T và anh Dương Công H không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và xác nhận không có nợ chung.

Tại cấp sơ thẩm:

Nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn. Khi ly hôn, nguyên đơn yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con.

Bị đơn cũng nhất trí ly hôn với nguyên đơn. Khi ly hôn, bị đơn yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu nguyên đơn phải cấp dưỡng nuôi con.

Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 28/2021/HNGĐ-ST ngày 11-8-2021 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã quyết định: Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị T và anh Dương Công H. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị Hoàng Thị T, giao con chung là cháu Dương Thị Khánh H, sinh ngày 01-5-2012 cho chị Hoàng Thị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Dương Công H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Dương Công H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Ngoài ra, Bản án còn tuyên về tài sản chung, về nợ chung, về án phí, về quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Trong thời hạn luật định, bị đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm: Giao con chung là cháu Dương Thị Khánh H cho bị đơn chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, bị đơn không yêu cầu nguyên đơn phải cấp dưỡng nuôi con.

Ngày 25-10-2021, cấp phúc thẩm nhận được Đơn yêu cầu của nguyên đơn với nội dung đề nghị Tòa án giao con chung cho bị đơn nuôi dưỡng và giáo dục vì bị đơn có điều kiện kinh tế, có nhà ở, còn nguyên đơn đang phải ở nhà thuê.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Tại Đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 19-11-2021, nguyên đơn giữ nguyên ý kiến đã thể hiện tại Đơn yêu cầu đề ngày 25-10-2021.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án cụ thể như sau:

1. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đương sự đã được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

2. Về việc giải quyết kháng cáo: Trên cơ sở thực tế; đồng thời, nguyện vọng của cháu Dương Thị Khánh H muốn được ở với nguyên đơn nên Bản án sơ thẩm giao cháu Dương Thị Khánh H cho nguyên đơn nuôi dưỡng là có cơ sở. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn có đơn trình bày đề ngày 25-10-2021, nhất trí với nội dung kháng cáo của bị đơn bởi bị đơn có điều kiện kinh tế tốt hơn và lại đang có nhà ở. Tuy vắng mặt tại phiên tòa, nhưng nguyên đơn đã có văn bản giữ nguyên ý kiến đã trình bày trên. Xét thấy, sự tự nguyện của nguyên đơn không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên cần ghi nhận. Mặt khác, việc giao con chung cho bị đơn nuôi dưỡng vẫn đảm bảo cho cháu có cuộc sống ổn định, đảm bảo các quyền và lợi ích cho cháu. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 28/2021/HNGĐ-ST ngày 11-8-2021 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn về con chung. Do sửa án nên bị đơn không phải chịu tiền án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Phiên tòa được triệu tập hợp lệ, nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn.

Đối với kháng cáo của bị đơn anh Dương Công H về vấn đề con chung, thấy rằng: Tại cấp sơ thẩm, cả nguyên đơn, bị đơn đều yêu cầu được nuôi dưỡng con chung khi ly hôn. Nhận thấy, cháu Dương Thị Khánh H, sinh ngày 01-5-2012. Từ khi nguyên đơn và bị đơn sống ly thân, cháu Dương Thị Khánh H đã ở với nguyên đơn và cháu có nguyện vọng được ở với nguyên đơn nếu bố mẹ ly hôn. Trên cơ sở điều kiện thực tế của các đương sự và các quy định của pháp luật, cấp sơ thẩm quyết định giao con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, ngay sau khi thụ lý vụ án, nguyên đơn đã trực tiếp đến Tòa án nộp đơn đề ngày 25-10-2021, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giao con chung cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục vì bị đơn có điều kiện kinh tế, có nhà ở còn nguyên đơn vẫn đang phải ở nhà thuê. Mặc dù vắng mặt tại phiên tòa, nhưng nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến này thể hiện tại Đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 19-11-2021. Xét thấy, việc nguyên đơn nhất trí giao con chung cho bị đơn nuôi dưỡng là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên cần ghi nhận sự tự nguyện đó. Mặt khác, hiện bị đơn đang sinh sống với bố mẹ đẻ của mình tại nhà đất ở thôn M, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; bị đơn có việc làm (đang là công nhân của Nhà máy xi măng L), có thu nhập ổn định mỗi tháng từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Bị đơn cũng không yêu cầu nguyên đơn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Với các điều kiện như vậy, sẽ đảm bảo đầy đủ về mọi mặt cho trẻ em phát triển toàn diện. Tuy không trực tiếp nuôi con nhưng nguyên đơn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Do đó, có đủ căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Về án phí: Do sửa án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu tiền án phí phúc thẩm. Hoàn trả cho người kháng cáo số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.

Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đưa ra là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Dương Công H; sửa một phần Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 28/2021/HNGĐ-ST ngày 11-8-2021 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn về con chung, cụ thể như sau:

1. Về con chung: Căn cứ vào các Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Giao con chung là cháu Dương Thị Khánh H, sinh ngày 01-5-2012 cho anh Dương Công H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Hoàng Thị T không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con vì anh Dương Công H không yêu cầu. Chị Hoàng Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh Dương Công H không phải chịu tiền án phí phúc thẩm. Hoàn trả lại cho anh Dương Công H số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2017/0001046 ngày 10-9-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ