vanban.org

Bản án 11/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 24/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố: Bị cáo Hồ Quốc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Hồ Quốc L 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, thời hạn chấp hành hình phạt kể từ ngày tuyên án ngày 24/02/2020… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Quốc L phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Hồ Quốc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2020/HSST
Ngày: 24-02-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Danh Thị Kiều Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lƣơng Thị Hồng Hạnh

2. Bà Vũ Thị Đào

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Bà Thị Kim Lài – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2020 tại Toà án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2020/HS-ST, ngày 07 tháng 01 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Hồ Quốc L - sinh năm 1990

Nơi cư trú: ấp P, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 11/12; Con ông: Hồ Văn Th, sinh năm 1945; con bà: Phan Thị H, sinh năm 1948; vợ là: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1990; Bị cáo có 07 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 1990, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình. Bị cáo có 01 người con sinh năm 2014.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Hồ Quốc L bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn: Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số số 53 ngày 06/11/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Quao.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Chị Lê Thị Cẩm T, sinh năm 1998 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp L1, xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

- Người làm chứng:

Anh Chương B, sinh năm 1980 (có mặt);

Địa chỉ: ấp H2, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang

Anh Nguyễn Thành N, sinh năm 1988 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp C, xã Th, huyện G, tỉnh Kiên Giang

Chị Đặng Thị U, sinh năm 1976 (vắng mặt);

Địa chỉ: khu phố 1, phường V, TP. R, tỉnh Kiên Giang

Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1985 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp H, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang

Anh Trần Quốc H, sinh năm 1989 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng hơn 14 giờ ngày 05/10/2019, Hồ Quốc L cùng với hai người anh rễ tên Nguyễn Thành N và Chương B đến quán BH thuộc ấp A, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang để uống bia, tại đây, có kêu ba người nữ tên Lê Thị Cẩm T, Đặng Thị U và Nguyễn Thị H là tiếp viên của quán vào phục vụ. Đến hơn 17 giờ cùng ngày thì nghỉ và tính tiền, lúc này T là tiếp viên ngồi với L đi sang phòng khác để tiếp khách nên L đi tìm xung quanh quán nhưng không gặp, sau đó L đi lại phòng trọ số 10 của ông BH mở cửa phòng vào trong tìm T nhưng không có ai trong phòng, lúc này, L phát hiện một chiếc điện thoại OPPO A9 của T đang sạc để gần cửa phòng nên nảy sinh ý định trộm cắp. Lúc này, L tháo điện thoại ra khỏi bộ sạc mang ra khỏi phòng bỏ vào túi quần đi ra ngoài khóa phòng lại và lấy xe chạy về nhà cha vợ tên Nguyễn Văn Quang ở thị Trấn Gò Quao ngủ và cất giữ điện thoại trên đầu tủ áo không cho ai biết. Đến sáng ngày 07/10/2019, L mang điện thoại nêu trên sang nhà của người bạn là anh Trần Quốc H ở khu Phố Phước Thành Lập để chơi, tại đây, L có nói Hoàng nghe vào ngày 05/10/2019 lúc đi nhậu tại quán của ông BH có lấy trộm một điện thoại di động của T. Sau đó, L về nhà cha vợ (ông Q) đến khi bị Công an mời làm việc thì Hồ Quốc L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp tài sản cho Cơ quan điều tra, tài sản đã trao trả lại cho người bị hại.

Tại phiên tòa, bị cáo L thừa nhận hành vi lén lút chiếm đoạt một điện thoại di động Oppo A9 và một sim điện thoại Viettel số 0865963153 trị giá tổng cộng là 7.040.000đồng. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo L không có ý kiến khiếu nại đối với Kết luận giám định số: 20/2019/KL-HĐĐG, ngày 12 tháng 10 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Gò Quao.

Tại bản Cáo trạng số: 06/CT-VKSND-GQ, ngày 6/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao truy tố bị cáo Hồ Quốc L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hồ Quốc L phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hồ Quốc L từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trao trả cho Hồ Quốc L một đôi dép bằng nhựa, loại dép tổ ong màu đen – trắng, dưới đế mỗi chiếc dép có dòng chữ “THÁI NGUYÊN” và số 5L, dép cũ đã qua sử dụng; một áo thun ngắn tay màu xám, cổ tròn, nhãn hiệu TOMMY – HILFIGER có size XXL; một quần Jeans nam (quần lững) màu xanh nước biển, nhãn hiệu Jeans wear TV Classwear có size 34.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Quao đã trao trả cho chủ sở hữu một điện thoại di động Oppo A9, thân máy màu tím, ốp lưng màu trắng trong, dung lượng GB128 và một sim điện thoại Viettel số 0865963153 theo biên bản trao trả đồ vật có liên quan đến vụ án ngày 17 tháng 10 năm 2019. Bị hại không yêu cầu gì nên Viện kiểm sát không đề nghị.

Bị cáo thống nhất với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, về trách nhiệm hình sự và biện pháp tư pháp đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

Bị cáo L nói L sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo được về với gia đình lo cho vợ và con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gò Quao, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thưc hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị Cẩm T là bị hại và những người làm chứng gồm: anh Nguyễn Thanh Ngoan, chị Đặng Thị U, chị Nguyễn Thị H, anh Trần Quốc H đều có đơn xin xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao và bị cáo không có ý kiến đối với việc vắng mặt của bị hại, những người làm chứng và yêu cầu Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy bị hại, những người làm chứng này đã có L khai đầy đủ liên quan đến nội dung vụ án ở giai đoạn điều tra nên việc vắng mặt những người có tên nêu trên không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Hồ Quốc L khai nhận vào khoảng 17 giờ ngày 05/10/2019 tại ấp An Thuận, xã Định An, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, lợi dụng lúc Lê Thị Cẩm T không có ở trong phòng, Hồ Quốc L đã lấy trộm một điện thoại di động Oppo A9 và một sim điện thoại Viettel số 0865963153, tổng giá trị: 7.040.000đ (bảy triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) đem về nhà cất dấu, chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện nên L giao nộp cho Công an. L khai nhận tội của bị cáo L phù hợp với nội dung Cáo trạng số 06/CT-VKSND-GQ, ngày 06/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao và L khai của bị hại cùng với các chứng cứ khác có trong hồ sơ mà quá trình điều tra thu thập được.

Tại Kết luận giám định số: 20/2019/KL-HĐĐG, ngày 12 tháng 10 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Gò Quao xác định: Trị giá còn lại của điện thoại di động Oppo A9, thân máy màu tím, ốp lưng màu trắng trong, dung lượng GB128 là 6.990.000đ và sim điện thoại Viettel số 0865963153 giá trị tại thời điểm: 50.000đ. Do đó, hành vi của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao truy tố đối với bị cáo Hồ Quốc L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) được quy định như sau:

“Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật”.

xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi, bị cáo biết tài sản của công dân là bất khả xâm phạm được pháp luật công nhận và bảo vệ. Mặc dù, bị cáo nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do bản chất tham lam nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sỡ hữu hợp pháp tài sản của người khác mà còn làm mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần phải áp dụng cho bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng tài sản bị cáo chiếm đoạt chưa gây thiệt hại, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đồng thời, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả trả lại điện thoại cho bị hại, bị cáo L có mẹ ruột là bà Phan Thị Hương được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và bị hại cũng có đơn yêu cầu giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo L có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và bị cáo có thể tự cải tạo bản thân tốt nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần xem xét cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo L cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục cũng đủ tính răn đe, giúp bị cáo trở thành một người công dân sống có ích cho gia đình, cho xã hội là phù hợp với chính sách trừng trị, khoan hồng của Đảng và Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì, Viện kiểm sát cũng không đề nghị nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về biện pháp tƣ pháp: Giao trả cho bị cáo L một đôi dép bằng nhựa, loại dép tổ ong màu đen – trắng; một áo thun ngắn tay màu xám; một quần Jeans nam (quần lững) màu xanh nước biển.

Xét đề nghị của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao truy tố bị cáo L về tội danh, về điều luật áp dụng, về hình phạt, về biện pháp tư pháp là có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Tuyên bố: Bị cáo Hồ Quốc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Hồ Quốc L 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, thời hạn chấp hành hình phạt kể từ ngày tuyên án ngày 24/02/2020.

Giao bị cáo Hồ Quốc L cho Ủy ban nhân dân xã Thủy Liễu, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang theo dõi, giám sát, quản lý, giáo dục trong thời hạn chấp hành bản án. Trong trường hợp bị cáo L có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của luật Thi hành án hình sự.

- Về biện pháp tƣ pháp: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Hồ Quốc L 01(một) đôi dép bằng nhựa, loại dép tổ ong màu đen – trắng, dưới đế mỗi chiếc dép có dòng chữ “THÁI NGUYÊN” và số 5L, dép cũ đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun ngắn tay màu xám, cổ tròn, nhãn hiệu TOMMY – HILFIGER có size XXL; 01(một) quần Jeans nam (quần lững) màu xanh nước biển, nhãn hiệu Jeans wear TV Classwear có size 34. Các vật chứng được bàn giao tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao theo phiếu nhập kho ngày 06/01/2020.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Quao đã trao trả một điện thoại di động Oppo A9, thân máy màu tím, ốp lưng màu trắng trong, dung lượng GB128 và một sim điện thoại Viettel số 0865963153 cho chủ sở hữu chị Lê Thị Cẩm T đúng quy định nên không xem xét.

- Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ Luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Hà Quốc L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm bằng 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng).

- Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo Hồ Quốc L biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 24/2/2020. Báo cho bị hại biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ