vanban.org

Bản án 11/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. An Khê, tỉnh Gia Lai Tuyên án 29/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Minh T phạm tội “Trô ̣m cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Võ Minh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 20/02/2020). Về án phí: Buộc bị cáo Võ Minh T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Minh T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Minh T phạm tội “Trô ̣m cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ A – TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2020/HS-ST
Ngày: 29-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tứ Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thi ̣ Thanh Binh và bà Võ Thị Thanh

̀ Hường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hường, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Duyên, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Võ Minh T, sinh ngày 12/10/1991 ta ̣i A, Gia Lai; nơi cư trú: Thôn 4, xã R, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nghề nghiê ̣p: Làm nông; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông E và bà Q; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo chưa có vợ, con; về nhân thân: Ngày 13/12/2010, bi ̣ Công an xa Y xữ

̉ pha ̣t vi phạm hành chinh 1.000.000đ về hành vi trô ̣m cắp tài sản,

́

bị cáo đa nô ̣̃ p pha ̣t. Ngày 09/5/2011, bi ̣ Tòa án nhân dân thi ̣ xa A xữ

̉ pha ̣t 04 tháng tù về tô ̣i “Tiêu thu ̣ tài sản do ngườ i khác pha ̣m tô ̣i mà có”. Chấp hành án ta ̣i Tra ̣i ta ̣m giam Công an tinh Gia Lai đến ngả

̀y 05/02/2012 chấp hành xong hình phạt; bi ̣ cáo đã thực hiê ̣n xong nghia vu ̣̃

dân sự theo quyết đi ̣nh của bản án; bi ̣ ta ̣m giữ từ ngày 20/02/2020 đến ngày 23/02/2020 chuyển ta ̣m giam cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Lê Văn D, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn 1, xã R, thị xã A, tỉnh Gia Lai; có mă ̣t.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Phạm Tấn Đ, sinh năm 1982; địa chỉ: 526 X, phường C, thành phố V, tỉnh Gia Lai; vắng mă ̣t.

* Người làm chứng:

1. NLC1;

2. NLC2;

3. ANH Đ;

4. NLC4.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 11/9/2019, sau khi uống rượu ta ̣i nhà ông NLC4, sinh năm 1964, trú ta ̣i Thôn 1, xa Y, thi ̣̃

xa A, Võ

̃ Minh T đi bô ̣ về nhà ở Thôn 4, xa Y,̃ thi ̣ xa A. Khi đi ngang qua nhã

̀ anh ta ̣i Thôn 1, xa Y, thi ̣̃

xa A, T nhĩ

n thấy chiếc xe

̀ ô tô tải biển số 78C-047.53 của anh D đang đâ ̣u, không có ngườ i trông coi. T đi đến mở cử a xe, phát hiê ̣n chia khóa cắm trên ổ khóa điê ̣n. Lúc này, T nảy sinh ý đi ̣nh

̀ chiếm đoa ̣t xe ô tô của anh D để đi lên huyê ̣n M, huyện O làm phương tiê ̣n chở hàng thuê. Sau đó, T điều khiển xe ô tô 78C-047.53 ra Quốc lô ̣ 19, rồi đi theo hướ ng lên huyê ̣n M. Đến 02 giờ 50 phút ngày 12/9/2019, T đến cây xăng số 40 thuô ̣c Thôn 1, xa H, huyê ̣̃

n P để đổ dầu. T nói vớ i anh Pha ̣m Tấn Đ đổ 450.000đ tiền dầu. Anh Đ đổ dầu xong, T nói do đi chở hàng thuê bi ̣ mất hết tiền nên thế la ̣i că ̣p binh ắc quy của xe, mai đến trả tiền, Anh Đ đồng ý. T đề xe nổ máy sẵn, rồi lấy

̀ cà lê trên xe tháo binh ắc quy đưa cho Anh Đ. Sau đó, T lái xe ô tô cha ̣y được mô ̣t

̀ đoa ̣n, do đèn xe mờ nên T quay la ̣i cây xăng nói vớ i Anh Đ xin thế bánh xe sơ cua gắn trên xe 78C-047.53 và lấy la ̣i că ̣p binh ắc quy, Anh Đ đồng ý. T tháo bánh xe

̀

sơ cua đưa cho Anh Đ rồi lấy că ̣p binh ắc quy gắn la ̣i xe rồi điều khiển lên huyê ̣n

̀

M. T đi lòng vòng trong huyê ̣n M tim ngườ i thuê chở hàng nhưng không ai thuê.

̀

Thấy 100.000đ của anh D để trên tấm lót đầu xe ô tô, T lấy mua bánh mi và thuốc

̀ lá. Đến ngày 14/9/2019, do hết tiền và xe gần hết dầu nên T dừ ng xe ở đườ ng bê tông thuô ̣c làng I, xa U, huyê ̣̃

n M, tháo că ̣p binh ắc quy bán cho mô ̣t ngườ i đàn ông

̀

không xác đi ̣nh được lai li ̣ch vớ i giá 400.000đ rồi bỏ trốn. Ngày 20/02/2020, T đến Công an thi ̣ xa A đẫ

̀u thú và khai nhâ ̣n hành vi pha ̣m tô ̣i.

Quá trinh điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thi ̣ xa A đã

thu giữ

̃ các

̀ vâ ̣t chứ ng gồm:

- Chiếc xe ô tô tải màu xanh, nhan hiê ̣̃

u Cử u Long, biển kiểm soát 78C-047.53, số máy QAC71107735A, số máy 2810D2000181;

- Giấy chứ ng nhâ ̣n đăng ký số 013657 của xe ô tô biển kiểm soát 78C-047.53 do Công an tinh Phủ

́ Yên cấp.

- Giấy chứ ng nhâ ̣n kiểm đi ̣nh số 9167692 của xe ô tô biển kiểm soát 78C-047.53 ngày 19/6/2019 ta ̣i tinh Phủ

́ Yên.

- Giấy chứ ng nhâ ̣n bảo hiểm bắt buô ̣c số 0000509325 của xe ô tô biển kiểm soát 78C-047.53.

- 01 bánh xe ô tô gồm 01 lốp loa ̣i CASUMINA (bố vải), loa ̣i 6.50-15 và 01 mâm (la răng) loa ̣i 6.50-15 (đa qua sữ

̉ du ̣ng), do anh Pha ̣m Tấn Đ giao nô ̣p.

- 01 Đia DVD trĩ

ch xuất từ Camera ta ̣i cây xăng 40 thuô ̣c Thôn 1, xa H,̃

́ huyê ̣n P, thờ i gian từ lúc 02 giờ 49 phút 45 giây đến 03 giờ 13 phút 49 giây.

Đối vớ i số tiền 100.000đ bi ̣ cáo đa sữ ̉ du ̣ng hết và că ̣p binh ắc quy bi ̣ cáo đa ̃

̀ bán cho mô ̣t ngườ i không xác đi ̣nh được lai li ̣ch nên không thu giữ được.

Tại Bản kết luận đi ̣nh giá tài sản số 98/KLĐGTS ngày 26/9/2019 của Hô ̣i đồng đi ̣nh giá tài sản trong Tố tu ̣ng hinh sự thi ̣ xa A xã

́c đi ̣nh: giá tri ̣ của xe ô tô

̀

78C-047.53 là 57.000.000đ. Giá tri ̣ 01 bánh xe ô tô nói trên là 500.000đ. Tổng giá tri ̣ tài sản là: 57.500.000đ (năm mươi bảy triệu, năm trăm nghìn đồng).

Tại Bản cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 17/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã A đã truy tố bị cáo Võ Minh T về tội “Trô ̣m cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Minh T phạm tội “Trô ̣m cắp tài sản”; đề nghị căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Đồng thời đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ta ̣i phiên tòa anh Lê Văn D là bi ̣ ha ̣i trong vu ̣ án trinh bày: Vào lúc 16 giờ 00

̀ ngày 11/9/2019 anh đậu chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu Cửu Long màu sơn xanh, biển số 78C-047.53 tại bãi tập kết vật liệu xây dựng của gia đình ở Thôn 1, xã R, thị xã A nhưng không rút chìa khóa ra khỏi ổ khóa điện và để giấy tờ xe ô tô trên ghế nệm bên phụ. Đến khoảng 06 giờ sáng ngày 12/9/2019 anh D ra bãi đậu xe thì phát hiện chiếc xe ô tô nói trên đã bi ̣ mất nên anh làm đơn trinh báo vớ i Công an thị xã A.

̀ Quá trình điều tra xác đi ̣nh bị cáo Võ Minh T là người đã trộm cắp chiếc xe ô tô của anh. Hiê ̣n nay anh đa nhâ ̣̃

n lại được tài sản bi ̣ mất là chiếc xe ô tô và toàn bộ giấy tờ xe. Đối vớ i số tiền 100.000đ bi ̣ cáo đa tiêu xã

̀i và 01 că ̣p binh ắc quy bị cáo đa bã ́n cho

̀ một ngườ i không rõ lai li ̣ch nên không thu hồi được. Anh không yêu cầu bị cáo bồi thường thiê ̣t ha ̣i về dân sự.

Lời khai của anh Phạm Tấn Đ là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có tại hồ sơ thể hiện: Vào lúc 03 giờ sáng ngày 12/9/2019 khi anh đang trực bán xăng lại cây xăng dầu số 40 thuộc Thôn 1, xã H, huyện P, tỉnh Gia Lai thì có 01 người thanh niên điều khiển xe ô tô tải màu xanh đến đổ dầu với số tiền 450.000đ. Sau khi đổ dầu xong thì người thanh niên này không có tiền trả nên đã thế lại chiếc bình ắc quy trên xe. Sau khi đi khỏi cây xăng khoảng 5 phút thì người này lái xe ô tô quay lại nói với Anh Đ cho đổi bánh xe sơ cua để lấy bình ắc quy vi

̀ do đèn mờ không cha ̣y được, Anh Đ đồng ý. Quá trinh điều tra Anh Đ đa giao nô ̣̃

p

̀ bánh xe ô tô nói trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A. Đối vớ i số tiền mua dầu 450.000đ mà bị cáo còn nợ, anh không yêu cầu bi ̣ cáo phải trả.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến kiến nghị hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bi ̣ ha ̣i, người có quyền lợi nghia vu ̣̃

liên quan đến vu ̣ án, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, do đó đã có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 23 giờ ngày 11/9/2020, tại Thôn 1, xã R, thị xã A, tỉnh Gia Lai, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong viê ̣c quản lý tài sản, bị cáo Võ Minh T đã lén lút chiếm đoa ̣t chiếc xe ô tô tải biển số 78C-047.53 cùng vớ i 01 bánh xe sơ cua và 100.000đ để trên xe của anh D. Tổng giá tri ̣ tài sản mà bi ̣ cáo chiếm đoa ̣t là 57.600.000đ . Vi vâ ̣y đa đũ ̉ cơ sở tuyên bố bi ̣

̀ cáo Võ Minh T pha ̣m tô ̣i “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 13/12/2010, bi ̣ Công an xa ̃ Y xử pha ̣t hành chinh 1.000.000đ về hành vi trô ̣m cắp tài sản; ngày 09/5/2011, bi ̣

́ Tòa án nhân dân thi ̣ xa A xữ

̉ pha ̣t 04 tháng tù về tô ̣i “Tiêu thu ̣ tài sản do ngườ i khác pha ̣m tô ̣i mà có”.

Nhận định về hình phạt: Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đặc điểm về nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới có đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về phần dân sự: Ta ̣i phiên tòa mă ̣c dù đa đượ̃

c Hô ̣i đồng xét xử giải thich

́ về quyền được yêu cầu bồi thườ ng Tê ̣t ha ̣i do tài sản bi ̣ xâm pha ̣m nhưng anh D không yêu cầu bi ̣ cáo phải bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣i. Lờ i khai của anh Phạm Tấn Đ là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có tại hồ sơ thể hiện anh không yêu cầu bi ̣ cáo phải trả la ̣i số tiền mua dầu còn nợ là 450.000đ. Như vâ ̣y, bi ̣ ha ̣i, ngườ i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều không yêu cầu bi ̣ cáo phải bồi thườ ng nên Hô ̣i đồng xét xử không xét.

Về vâ ̣t chứ ng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thi ̣ xa A đã

xữ ̉ lý theo thẩm quyền nên Hô ̣i đồng xét xử không đề câ ̣p.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Võ Minh T phạm tội “Trô ̣m cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Võ Minh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 20/02/2020).

Về án phí: Buộc bị cáo Võ Minh T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (29/5/2020) bị cáo, bi ̣ ha ̣i có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đối vớ i người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ