vanban.org

Bản án 11/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 28/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Phạm Đình T 15 (mười lăm) tháng tù.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,31 (không phẩy ba mươi mốt) gam chất bột khô, màu trắng cùng toàn bộ niêm phong, túi gói cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Pham Đình T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Phạm Đình T 15 (mười lăm) tháng tù.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11 /2020/HS-ST
Ngày 28/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Lục Văn Vãn

2. Bà Vũ Thị Hòa

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Trang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai (Đường B2, phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2020/TLST- HS ngày 17 tháng 01 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10 /QĐXXST- HS ngày 14 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Phạm Đình T; Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày 10/5/1967 tại Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/10;

Hộ khẩu thường trú: Xóm 10, thôn Hoành Tứ, xã H , huyện G, tỉnh N.

Con ông Phạm Đình H - đã chết; con bà: Nguyễn Thị B - đã chết.

Vợ Phạm Thị Thuận;

Tiền sự: Không;

Tiền án: Không

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/12/2019, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến:

Anh Bùi Ngọc H

Nơi cư trú: thị trấn M, huyện M, tỉnh L. “Vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 04/11/2019 Công an thị trấn SaPa, huyện SaPa đưa đối tượng Phạm Đình T vào cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Lào Cai tại thôn Đá Đinh 1, xã Tả Phời, thành phố Lào Cai để hoàn thiện thủ tục cai nghiện. Quá trình kiểm tra sức khỏe đối với Phạm Đình T, cán bộ y tế của cơ sở cai nghiện ma túy đã tiến hành kiểm tra thân thể, phát hiện trong lỗ hậu môn của Phạm Đình T có 01 gói nilon màu hồng. Cán bộ y tế đã sử dụng kẹp y tế gắp gói nilon và mở kiểm tra bên trong có chứa chất bột khô, vón cục, màu trắng. Phạm Đình T khai nhận đây đều là ma túy Hêrôin, mục đích mua về để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra không thu giữ thêm đồ vật, tài liệu gì khác. Công an thị trấn SaPa cùng đại diện cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Lào Cai đã lập biên bản kiểm tra người và niêm phong vật chứng trước sự chứng kiến của anh Bùi Ngọc Hà (sinh năm 1986, Nơi cư trú: thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai).

Tại kết luận giám định số: 251/GĐMT ngày 14/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,43 (không phẩy bốn mươi ba) gam chất bột khô, vón cục, màu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin)

Cáo trạng số 05/KSĐT ngày 16/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Phạm Đình T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:Bị cáo Phạm Đình T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như tóm tắt ở trên và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Đình T đã phạm vào tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 (năm) 03 tháng đến 01 năm 06 (sáu) tháng tù.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự xử lý theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Đình T: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, tang vật thu giữ và kết luận giám định. Do nghiện ma túy nên khoảng 08 giờ ngày 04/11/2019, Phạm Đình T đi mua của người nam giới này 01 gói ma túy Hêrôin với giá 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng). và giấu số ma túy vào trong lỗ hậu môn để về sử dụng. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng công an thị trấn SaPa phối hợp cùng công an huyện SaPa kiểm tra hành chính và lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đến khoảng 16 giờ 50 phút ngày 04/11/2019, tại cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Lào Cai, Phạm Đình T được cán bộ y tế kiểm tra sức khỏe. Quá trình kiểm tra, thu giữ tại lỗ hậu môn của Phạm Đình T có 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa 0,43 (không phẩy bốn mươi ba) gam chất bột khô, vón cục, màu trắng, được gửi giám định là loại chất ma túy Heroine. Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trái phép chất ma túy” Tội phạm được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do vậy hội đồng xét xử cần phải áp dụng một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể giáo dục bị cáo trở thành con người sống có ích cho xã hội đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy đinh “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên bị cáo không có tài sản lên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 0,43 (không phẩy bốn mươi ba) gam chất bột khô, vón cục, màu trắng. Còn lại sau trích mẫu giám định: 0,31 (không phẩy ba mươi mốt) gam chất bột khô, màu trắng cùng toàn bộ niêm phong, túi gói cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và hoàn trả lại cơ quan trưng cầu. Trên một mặt của bì niêm phong mới này có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Phạm Đình T có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện, thu giữ ngày 04/11/2019 tại cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Lào Cai. Thôn Đá Đinh 1, xã Tả Phời, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai” còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong. Xét thấy đây thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự là phù hợp.

Đối với người nam giới đã bán ma túy cho bị cáo ngày 04/11/2019, ngoài lời khai của bị cáo Phạm Đình T ra không có tài liệu nào khác làm rõ nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 khoản 2 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Đình Tphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Phạm Đình T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giam ngày 25/12/2019.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,31 (không phẩy ba mươi mốt) gam chất bột khô, màu trắng cùng toàn bộ niêm phong, túi gói cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Một mặt của bì thư có ghi vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Phạm Đình T có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện thu giữ ngày 04 tháng 11 năm 2019 tại cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Lào Cai. Thôn Đá Đinh 1, xã Tả Phời, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”.Theo biên bản giao nhận của Chi cục Thi hành án ngày 17/01/2020.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Phạm Đình T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ