- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Mạnh D - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2020/HS-ST Ngày 06-5-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUÂN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Văn Tỉnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Công Biên
Bà Bùi Thùy Linh
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Chính -Thư ký Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Cường -Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2020/TLST- HS ngày 16 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 290/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 351/2020/HSST-QĐ ngày 28 tháng 4 năm 2020 đối với bi ̣ cáo:
Trần Mạnh D, sinh năm 1985 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Tổ N, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Thôn K1, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N và bà Hà Thị D; có vợ là Vũ Thị Hà N và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Bị hại:
Ông Phạm Hữu K; sinh năm 1940; nơi cư trú: Tổ Q2, phường P, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người làm chứng:
Anh Bùi Đức P; ông Phạm Duy G, anh Đinh Việt B, anh Nguyễn Phú H, ông Nguyễn Khánh T; đều vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 18/10/2018, Trần Mạnh D cùng ngồi uống rượu với Nguyễn Phú H (sinh năm 1990; trú tại thôn 2 N, T, A, Hải Phòng), Bùi Đức P (sinh năm 1992; trú tại Đ, Đồng Hòa, K, Hải Phòng) và Phạm Hùng C (sinh năm 1997; hiện chưa rõ địa chỉ cụ thể) ở khu vực Đ, K, Hải Phòng. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, cả nhóm rủ nhau về Thư viện thuộc phường Tr, K, Hải Phòng để uống bia. Sau đó, Đinh Việt B (sinh năm 1984; trú tại N, K, Hải Phòng) đến tham gia uống bia cùng cả nhóm. Khoảng 15 giờ cùng ngày, D, H, C, P, B không uống bia nữa và rủ nhau đi chơi. C, P, B cùng về nhà cất xe máy. H điều khiển xe ô tô BKS 15A-390.89 đến khu vực bờ hồ H (gần cổng Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn ở số 5 C, Tr, K) thì dừng xe tại đó. D điều khiển xe ô tô BKS 15A-172.46 ra đón H, khi lên xe H ngồi ghế sau D tiếp tục điều khiển xe đi đón C, P, B, xe di chuyển trên đường N theo hướng từ ngã năm K về ngã ba Đ. Khi đến gần nhà số 262 đường N, K, Hải Phòng thì phía trước xe của D có 01 xe tải chở hàng (không rõ biển kiểm soát) đi cùng chiều. D xi nhan, bấm còi, nháy đèn pha để xin vượt nhưng không được. D đánh lái sang trái, lấn sang làn đường ngược chiều để vượt thì va chạm với xe mô tô BKS 16P7-5099 do ông Phạm Hữu K điều khiển đang di chuyển theo hướng từ ngã ba Đ về ngã năm K. Hậu quả ông K bị thương phải đi cấp cứu tại Bệnh viện K.
Tại Phiếu xét nghiệm hóa sinh máu của Trần Mạnh D hồi 20 giờ 13 phút ngày 18/10/2018 của Bệnh viện K thể hiện “Định lượng Ethanol (cồn) <Máu> là 85 mg/dl”.
Tại Bản Kết luận pháp y về thương tích số 28/2019/TgT của Trung tâm Pháp y Hải Phòng ngày 24/01/2019 kết luận: “Nạn nhân Phạm Hữu K bị đa chấn thương gây rách da vùng trán phải không tổn thương nội sọ, xương họp sọ, chấn thương bụng kín, dập nát da, cân cơ thành bụng trái đã được phẫu thuật cắt đoạn hỗng tràng 10cm, cắt đoạn đại tràng Sigma làm hậu môn nhân tạo, nẹp cố định đùi cẳng bàn chân trái. Hiện đang được theo dõi, điều trị tại nhà đang dần ổn định, còn hậu môn nhân tạo thành bụng trái, nẹp nhựa cố định đùi cẳng bàn chân trái. Kết luận: Căn cứ Thông tư 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y Tâm thần của Bộ Y tế, xếp tỷ lệ phần trăm tồn thương cơ thể tại thời điểm giám định là: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do các thương tích gây nên là 81% (Tám mươi mốt phần trăm)”.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 16 giờ 10 phút ngày 18/10/2018 tại khu vực trước nhà số 262 đường N, quận K, TP Hải Phòng thể hiện:
“1. Hiện trạng của đoạn đường xảy ra tai nạn: là đoạn đường thẳng trước khu vực nhà số 262 N, đồng thời là khu vực giao nhau với đường T, hai bên đường là hệ thống mương thoát nước thuộc tuyến đường N. Mặt đường rộng 11m trên mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, đồng thời có sử dụng vạch kẻ đường không liên tục ở giữa đường để chia đường thành hai phần bằng nhau dành cho hai chiều đường xe chạy.
2. Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:(1) Vị trí xe máy 16P7-5099. (2) Vết máu trên mặt đường. (3) Vết cày xước không cố định trên mặt đường.(.) Điểm mốc cố định.
3. Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn: Sau khi quan sát chúng tôi thống nhất chọn mép tường nhà bên phải số 262 N làm điểm mốc. Chọn mép đường bên phải theo chiều đi từ Đ về ngã 5 K đến các trục bánh xe máy, tâm vết máu, điểm đầu vết cày xước không liên tục là số đo làm chuẩn.
4. Mô tả theo thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
(1) là vị trí xe máy BKS 16P7-5099 sau khi xẩy ra tai nạn giao thông đường bộ. Xe bị đổ nghiêng về bên trái, đầu xe hướng về ngã 3 Đ, đuôi xe hướng về ngã 5 K. Đo từ trục bánh xe trước xe máy vào mép đường bên phải theo chiều từ ngã 3 Đ đi ngã 5 K là 2m90. Đo từ trục bánh xe sau xe máy vào mép đường bên phải theo chiều từ ngã 3 Đ về ngã 5 K là 2m70. Đo từ trụ sau bánh xe mô tô đến điểm nối cố định là 5m25 (đo vuông góc).
(2) là vị trí vết máu trên mặt đường trùng với trục sau bánh xe máy. Đo vết máu có kích thước là 60x30cm; đo từ tâm vết vào mép đường bên phải theo chiều đi ngã 3 Đ đi ngã 5 K là 3m50.
(3) Là vết cày xước không liên tục trên mặt đường.
Đo từ điểm đầu vết cày xước này vào mép đường bên phải theo chiều đi ngã 3 Đ đi ngã 5 K là 4m30. Đo từ điểm đầu vết cày xước đến điểm cuối cùng của vết cày xước là trùng với trục giữa xe máy là 3m70.
Ngoài ra phát hiện 01 mũ bảo hiểm nằm cách vị trí vết máu là 1,80m, đồng thời phát hiện nhiều mảnh vỡ nhựa nằm rải rác xung quanh phía sau xe máy
Kết quả khám nghiệm phương tiện xe ô tô BKS 15A-172.46 thể hiện: phần ốp nhựa mặt ngoài gương chiếu hậu bên trái xe ô tô bị bật bung khỏi vị trí ban đầu. Gương chiếu hậu bị gập vào trong theo chiều hướng từ trước về sau. Tai trước phần tiếp giáp với cánh cửa trước bên trái bị bẹp lõm theo chiều hướng từ ngoài vào trong, từ trước về sau. Tai trước bên trái xe ô tô bị biến dạng bẹp lõm, bong tróc sơn kích thước 38x35cm theo chiều hướng từ trước về sau. Toàn bộ cụm đèn pha, đèn xi nhan bên trái phía trước xe bị vỡ, lệch khỏi vị trí ban đầu. Ba đờ sốc (cản trước bên trái) bị vỡ bẹp, lõm bung khỏi vị trí ban đầu kích thước 52x62cm theo chiều hướng từ trước về sau. Ốp nhựa phía trước đầu xe bên dưới bị bật bung khỏi vị trí ban đầu. Nắp capô bên trái phần tiếp giáp với tai xe bên trái bị chà xước bẹp, lõm kích thước 24x3cm theo chiều hướng từ trước về sau, từ ngoài vào trong.
Kết quả khám nghiệm phương tiện xe mô tô BKS 16P6-5099 thể hiện: cần gương chiếu hậu bên phải bị lệch khỏi vị trí ban đầu, bàn gương chiếu hậu bên phải bị rời khỏi cần gương theo chiều hướng từ trước về sau. Cần gương và bàn gương chiếu hậu bên trái bị lệch khỏi vị trí ban đầu theo chiều hướng từ ngoài vào trong. Ốp nhựa mặt nạ trước đầu xe bị vỡ rời khỏi vị trí ban đầu kích thước 24x25cm, điểm cao nhất cách mặt đất là 95cm. Cánh yếm bên trái bị vỡ, bật bung khỏi vị trí ban đầu theo chiều hướng từ trước về sau, phần yếm võng bên phải, trái bị dập vỡ kích thước 31x32cm. Càng xe phía trước bị đẩy gập theo chiều hướng từ trước về sau, từ ngoài vào trong, từ phải qua trái đồng thời không cử động được. Cánh yếm trước bên phải bị dập vỡ kích thước 20x15cm. Bàn để chân bên trái phía sau bị mài xước kích thước 9x3cm. Phần đầu bàn để chân bên trái phía trước bị mài xước cao su kích thước 2x2,5cm. Phần nhựa công tác đèn pha, cốt bị vỡ bật bung khỏi vị trí ban đầu kích thước 5x4cm. Phần tay cầm bên trái bung khỏi vị trí ban đầu. Mặt ngoài đèn pha chiếu sáng bị mài xước nhựa kích thước 12x6cm.
Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 12-3-2020 của Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị Trần Mạnh D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Mạnh D khai nhận: D làm nghề lái xe taxi cho Công ty Cổ phần L. Khoảng 15 giờ ngày 18/10/2018, D điều khiển xe ô tô BKS 15A-172.46 chở Nguyễn Phú H ngồi ghế đằng sau di chuyển theo hướng từ ngã năm K đi ngã ba Đ. Khi D điều khiển xe đến gần nhà số 262 đường N, K, Hải Phòng thì phía trước xe D có 01 xe tải chở hàng (không rõ biển kiểm soát) đi cùng chiều. D xi nhan, bấm còi, nháy đèn pha để xin vượt nhưng không được. D đánh lái sang trái, lấn sang làn đường ngược chiều để vượt thì va chạm với xe mô tô BKS 16P7-5099 do ông Phạm Hữu K điều khiển đang di chuyển theo hướng từ ngã ba Đ về ngã năm K, hậu quả ông K bị thương. D thừa nhận khi đánh lái để vượt xe tải D đã không chú ý quan sát phần đường ngược chiều.
Hội đồng xét xử công bố lời khai bị hại, người làm chứng, kết luận giám định pháp y về thương tích, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu khác có liên quan, bị cáo không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận K phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, xác định lỗi của bị cáo, bị hại, nêu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đánh giá nhân thân, hoàn cảnh gia đình và công việc của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Mạnh D từ 33 đến 36 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án. Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết xong tại giai đoạn điều tra nên không đặt ra để giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt:
Hội đồng xét xử xét thấy lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng, phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản nhận dạng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ xác định, khoảng 15 giờ ngày 18/10/2018, bị cáo Trần Mạnh D điều khiển xe ô tô BKS 15A-172.46 chở Nguyễn Phú H ngồi ở hàng ghế phía sau đi chơi, xe di chuyển trên đường N theo hướng từ ngã năm K đi về ngã ba Đ. Khi D điều khiển xe đến gần nhà số 262 đường N, K, Hải Phòng thì phía trước xe D có 01 xe tải chở hàng (không rõ biển kiểm soát) đi cùng chiều. D xi nhan, bấm còi, nháy đèn pha để xin vượt nhưng xe phía trước không cho vượt. D đánh lái sang trái, lấn sang làn đường ngược chiều để vượt thì va chạm với xe mô tô BKS 16P7-5099 do ông Phạm Hữu K điều khiển đi ngược chiều với xe của D, gây tai nạn làm ông Phạm Hữu K bị thương giảm 81% sức khỏe. Bị cáo Trần Mạnh D đã có hành vi thiếu quan sát và vượt phương tiện khác trong khi không đủ điều kiện vượt, vi phạm khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ “Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải”. Hành vi của bị cáo Trần Mạnh D đã phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 260 của Bộ luật hình sự. Tại phiếu xét nghiệm hóa sinh máu của bị cáo Trần Mạnh D hồi 20 giờ 13 phút ngày 18/10/2018 của Bệnh viện K, Hải Phòng kết luận “Định lượng Ethanol (cồn) < máu> là 85mg/dl”. Như vậy bị cáo Trần Mạnh D điều khiển xe ô tô gây tai nạn trong tình trạng có sử dụng rượu, bia nên hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nguyên nhân phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến sức khỏe, tính mạng và tài sản, của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ. Do vậy cần phải xử phạt bị cáo Trần Mạnh D mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về nguyên nhân phạm tội: Xét về lỗi trong vụ án này lỗi chính thuộc về bị cáo điều khiển xe ô tô khi vượt xe khác không quan sát, điều khiển xe vượt khi không đủ điều kiện vượt nên đã gây ra tai nạn. Đối với bị hại, Hội đồng xét xử xét thấy tại sơ đồ hiện trường thể hiện làn đường theo chiều đi của bị hại là 5,5m nhưng vị trí xảy ra tai nạn xác định xe mô tô của bị hại cách vỉa hè bên phải theo chiều đi của bị hại là 2,90m. Như vậy bị hại đã đi ra giữa phần đường, vi phạm khoản 1 Điều 9 quy tắc chung của Luật giao thông đường bộ: “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định…” nên bị hại trong vụ án này cũng có một phần lỗi.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự .
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại và bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Mặt khác bị hại trong vụ án này cũng có một phần lỗi. Vì vậy bị cáo Trần Mạnh D được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, hậu quả của vụ tai nạn giao thông không làm chết người, lỗi trong vụ án này là lỗi hỗn hợp, trách nhiệm bồi thường dân sự các bên đã giải quyết xong, bị cáo có nơi cư trú ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện ổn định kinh tế gia đình và chăm sóc con nhỏ, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
- Về các vấn đề khác:
Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh của bị cáo là lao động tự do nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe ô tô BKS 15A-172.46 cho chủ sở hữu là Công ty cổ phần L quản lý sử dụng, trả lại xe mô tô BKS 16P7-5099 cho chủ sở hữu là ông Phạm Hữu K quản lý sử dụng nên không xét.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Trần Mạnh D đã bồi thường cho ông Phạm Hữu K số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu) đồng, ông K không còn yêu cầu gì khác nên không xét.
Xe ô BKS 15A-172.46 thuộc sở hữu của Công ty Cổ phần L. Giữa Công ty Cổ phần L và bị cáo Trần Mạnh D có ký Hợp đồng lao động theo đó Công ty Cổ phần L đã giao cho bị cáo Trần Mạnh D chiếm hữu, sử dụng xe ô tô BKS 15A - 172.46 nên theo quy định tại khoản 2 Điều 601 Bộ luật Dân sự bị cáo D phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Trách nhiệm dân sự trong vụ án này giữa bị cáo và bị hại đã giải quyết xong, Công ty Cổ phần L đã nhận lại xe ô tô BKS 15A-172.46 và không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không đưa Công ty Cổ phần L vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Về án phí: Bị cáo Trần Mạnh D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Mạnh D 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Trần Mạnh D cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu trong thời gian thử thách bị cáo Trần Mạnh D cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Trần Mạnh D phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Trần Mạnh D phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND quận K; - Cơ quan Thi hành án hình sự quận K; - Chi cục THADS quận K; - Sở Tư pháp Hải Phòng; - Công an TP Hải Phòng (Phòng PC10; PV27) - Bị cáo; bị hại; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lưu Văn Tỉnh |