- Tranh chấp gì? án hình sự — "NDT - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo phải nộp 200.000 (hai tră nghìn) đồng án ph hình sự sơ th .
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự nă
| THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2020/HS-ST Ngày 25-02-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Ngọc Hải
Ông Nguyễn Minh Toàn.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị C V n - Thư ký Tòa án nh n d n quận Hồng Bàng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kiều Dung - Kiể sát viên.
Ngày 25 tháng 02 nă 2020, tại trụ sở Tòa án nh n d n quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ th công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2020/TLST-HS ngày 0 tháng 01 nă 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 nă 2020, đối với bị cáo:
NDT, sinh nă 1990, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 3, xã A, huyện B, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; d n tộc: Kinh; giới t nh: Na ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Na ; con ông C và bà D; gia đình có nă anh chị e , bị cáo là con thứ nă , bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạ giữ từ ngày 21 tháng 10 nă 2019, được áp dụng biện pháp bảo lĩnh từ ngày 02 tháng 01 nă 2020; có ặt.
- ị hại: Ông BH; địa chỉ: Tổ E, phường F, quận G, thành phố Hải Phòng; vắng ặt.
- Người làm chứng:
1. Ông NLC1; vắng ặt;
2. Ông NLC2; vắng ặt.
3. Ông NLC3; vắng ặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tó tắt như sau:
Chiều tối ngày 18-10-2019, NDT và ông NLC1 đến phòng bảo vệ của ông NLC2 hiện đang là bảo vệ ở khu công trường H, phường I, quận J, thành phố Hải Phòng chơi và ăn cơ tối. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, NDT ra ngoài phòng bảo vệ thì phát hiện ông BH đang say rượu nằ ngủ bên cạnh chiếc xe ô tô Ya aha Jupiter, àu đen đỏ, biển kiể soát số: 16P4-5120 dựng tại khu vực trước cửa nhà Số 7, khu dãy nhà liền kề 13 trong công trường H, phường I, quận J, thành phố Hải Phòng cách phòng bảo vệ khoảng 20 . Sau đó, NDT quay lại phòng bảo vệ và nảy sinh ý định chiế đoạt chiếc xe ôtô trên. NDT nói ý định của ình cho ông NLC1 và ông NLC2 biết, nhưng ông NLC1 và ông NLC2 không đồng ý và can ngăn NDT không nên lấy chiếc xe. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, thấy ông BH vẫn ngủ say, chiếc xe ôtô trên không có hệ thống khóa chống trộ đồng thời xung quanh không có người, NDT ột ình đi đến, lén lút dắt xe ôtô Yamaha Jupiter, biển kiể soát 1 P4-5120 để vào ột căn nhà đang x y dựng ở ph a đối diện phòng bảo vệ, rồi quay lại phòng bảo vệ. Khoảng 05 phút sau, không thấy BH tỉnh, NDT lấy xe mô tô vừa chiế đoạt được mang đến nhà NLC3 để cất giấu. Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 20-10-2019, NDT bị lực lượng Công an bắt giữ.
Tại Kết luận định giá tài sản ngày 21-10-2019 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự, Ủy ban nh n d n quận J kết luận: Chiếc xe ô tô đã qua sử dụng, nhãn hiệu YAMAHA, số loại: JUPITER, àu đen đỏ, biển kiể soát: 16P4-5120 trị giá 9.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 70/CT-VKS-HB ngày 03-01-2020 của Viện Kiể sát nh n d n quận Hồng Bàng đã truy tố bị cáo NDT về tội Trộ cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo nhận tội như nội dung cáo trạng của Viện kiể sát đã truy tố và xin giả nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiể sát giữ nguyên cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo về tội Trộ cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và đề nghị áp dụng quy định tại điể i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xe xét, xử phạt bị cáo ức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án. Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án ph hình sự sơ th .
Tài sản bị cáo chiế đoạt của bị hại là chiếc xe mô tô Yamaha Jupiter, màu đen đỏ, biển kiể soát 1 P4-5120. Bị hại đã nhận lại chiếc xe này và không có yêu cầu gì về việc bồi thường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiể sát nh n d n quận Hồng Bàng, Kiể sát viên thu thập; bị cáo, bị hại, người tha gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tha gia tố tụng khác không có khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiể sát nh n d n quận Hồng Bàng, Kiể sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tha gia tố tụng khác không khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh:
Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên tòa, bị cáo nhận tội như cáo trạng đã truy tố, bị cáo đã lợi dụng sơ hở việc xe ô tô trên không có hệ thống khóa chống trộ , đồng thời xung quanh không có người, nên đã lén lút chiế đoạt chiếc xe trên bằng cách dắt chiếc xe để vào ột căn nhà đang x y dựng ở ph a đối diện phòng bảo vệ, rồi quay lại phòng bảo vệ. Khoảng 05 phút sau, không thấy bị hại tỉnh, bị cáo lấy xe ô tô vừa chiế đoạt được ang đến nhà NLC3 để cất giấu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản ghi lời khai của bị hại về thời gian, địa điể xảy ra tội phạ , phù hợp với hình thức, đặc điể , t nh chất tài sản bị chiế đoạt. Đồng thời, được chứng inh bởi biên bản ghi lời khai của người là chứng, tài sản bị chiế đoạt theo Kết luận định giá tài sản ngày 21-10-2019 như nêu trên có giá trị 9.000.000 đồng và các chứng cứ khác, được xe xét và tranh tụng công khai tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi lén lút chiế đoạt tài sản nói trên của bị hại đã phạ tội Trộ cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiể cho xã hội, đã x hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác và g y ất trật tự trị an chung. Vì vậy, việc truy cứu trách nhiệ hình sự đối với bị cáo là cần thiết.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệ hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệ hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giả nhẹ trách nhiệ hình sự: Bị cáo phạ tội lần đầu, thuộc trường hợp t nghiê trọng. Sau khi thực hiện hành vi phạ tội, bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giả nhẹ trách nhiệ hình sự quy định tại các điể i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ông nội bị cáo có huy chương chiến thắng hạng nhất, nên bị cáo được hưởng tình tiết giả nhẹ trách nhiệ hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét nh n th n, t nh chất phạ tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người không có tiền án, tiền sự, luôn chấp hành đúng ch nh sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công d n ở nơi cư trú, t nh chất, ức độ phạ tội của bị cáo thuộc trường hợp t nghiê trọng, có nhiều tình tiết giả nhẹ trách nhiệ hình sự, có nơi cư trú r ràng, có khả năng tự cải tạo, sau khi phạ tội, bị cáo đã bị tạ giữ, tạ gia 02 tháng 12 ngày, nên đã đả bảo t nh răn đe của pháp luật. Bởi vậy, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiể sát nh n d n quận Hồng Bàng cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng th phán Tòa án nh n d n tối cao. Giao bị cáo cho ch nh quyền địa phương nơi cư trú để giá sát, giáo dục là đủ tác dụng cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có việc là ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo qui định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng và trách nhiệ d n sự: Tài sản bị cáo chiế đoạt của bị hại là 01 chiếc xe mô tô Ya aha Jupiter, àu đen đỏ, biển kiể soát 1 P4-5120. Bị hại đã nhận lại chiếc xe này và không có yêu cầu gì về việc bồi thường. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xe xét về trách nhiệ d n sự.
Trong quá trình điều tra, không đủ căn cứ xác định NLC1 và NLC2 đồng phạ về tội Trộ cắp tài sản với bị cáo, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng không đủ căn cứ xử lý.
Đối với NLC3 không biết chiếc xe ô tô trên do bị cáo trộ cắp à có, không được bị cáo hứa hẹn cho lợi ch vật chất, nên không đủ căn cứ xử lý NLC3 về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạ tội à có.
Về án ph : Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án ph hình sự sơ th .
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điể i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 5 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo NDT 09 (chín) tháng tù về tội “Trộ cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 ( ười tá ) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nh n d n xã A, huyện B, thành phố Hải Phòng để giá sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo được hưởng án treo có trách nhiệ kết hợp với ch nh quyền địa phương trong việc giá sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.
Căn cứ Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đối với bị cáo NDT.
Căn cứ vào Điều 13 của Bộ luật Tố tụng hình sự nă 2015 và Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội số: 32 /201 /UBTVQH14 ngày 30-12- 2016 qui định về ức thu, iễn, giả , thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Toà án;
Bị cáo phải nộp 200.000 (hai tră nghìn) đồng án ph hình sự sơ th .
Bị cáo, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niê yết bản án./.
| Nơi nhận: - TANDTP. Hải Phòng; - VKSNDTP. Hải Phòng; - Công an thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP Hải Phòng; - VKSND.Q. Hồng Bàng; - Công an quận Hồng Bàng; - Chi cục THADS. Q. Hồng Bàng; - Ủy ban nh n d n xã A, B, Hải Phòng; - Bị cáo; bị hại; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Huyền |