vanban.org

Bản án 11/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 12/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vỏ Hoàng H phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”

Xử phạt bị cáo Vỏ Hoàng H 01 ( một ) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 ( hai ) năm tính từ ngày tuyên án ( ngày 02/3/2020 ). Giao bị cáo Vỏ Hoàng H cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "VO HOANG H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vỏ Hoàng H phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2020/HS - ST
Ngày: 02/3/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ - TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bé Tư

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Minh Toàn

2. Ông Hồ Minh Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ tham gia phiên toà: Ông Hồ Tuấn Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2020/TLST - HS ngày 17 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2020/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo: Vỏ Hoàng H sinh năm 1996.

Nơi cư trú: ấp N, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá ( học vấn ) 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vỏ Văn Q, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1970; Tiền án: Không, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 20/10/2019 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; ngày 03/12/2019 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L khởi tố vụ án, khởi tố bị can; bị cáo tại ngoại ( có mặt tại phiên tòa ).

- Bị hại: Anh Hứa Tiến T, sinh năm 2000 ( có đơn xin vắng )

Địa chỉ: ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vỏ Hoàng H là công nhân Công ty T, H thuê phòng trọ số 145 nhà trọ H tại ấp P, xã Q, huyện L, tỉnh Vĩnh Long để ở. Khoảng 01 giờ ngày 20/10/2019, H đi ngang phòng trọ số 143 của anh Hứa Tiến T sinh năm 2000 cư ngụ ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh phát hiện cửa sổ phòng mở, H nhìn vào trong phòng thấy có 01 Laptop để dưới nền gạch, 01 điện thoại di động để trên nệm, cửa phòng khóa, trong phòng không có ai nên H nảy sinh ý định trộm tài sản nêu trên. H về phòng 145 lấy 03 móc phơi đồ bằng kim loại nối lại và đi đến phòng 143, H cầm đoạn kim loại trên móc và kéo điện thoại ra khe hở cửa phòng rồi lấy điện thoại bỏ vào túi quần bên phải, sau đó H cầm đoạn kim loại móc và kéo giỏ đựng Laptop kéo lên khung cửa sổ và lấy Laptop ra ngoài rồi ném đoạn kim loại xuống cỏ, đem máy tính về cất giấu trong thùng gỗ trong phòng, còn điện thoại H đem để trong phòng 153 của bạn gái H là Nguyễn Thị Thúy V sinh năm 2001 cư ngụ ấp M, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long, bạn gái H không biết H trộm tài sản nói trên của anh T vì lúc đó V đang ở nhà cha mẹ ruột đến ngày 21/10/2019 V mới trở về phòng trọ của mình.

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 20/10/2019 anh T về phòng mới phát hiện mất tài sản nên trình báo công an. Qua quá trình điều tra H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm tài sản nói trên của anh T.

Theo kết quả định giá tài sản số 49/HĐ ngày 18/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L thì tài sản mà H trộm gồm 01 điện thoại di động hiệu Lenovo đã qua sử dụng trị giá 150.000đ, 01 Laptop hiệu Dell có giá 11.672.000đ, tổng giá trị tài sản là 11.822.000đ.

Tại cáo trạng số 11/CT - VKSLH ngày 17/01/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện L đã truy tố Vỏ Hoàng H về tội “ Trộm cắp tài sản ” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

* Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Long Hồ thực hiện quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Vỏ Hoàng H phạm tội “ trộm cắp tài sản ”; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Vỏ Hoàng H từ 09 tháng tù đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thửa thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 tuyên tịch thu tiêu hủy đoạn kim loại màu trắng có tổng chiều dài 2,40m hiện Cơ quan Thi hành án dân sự huyện L đang quản lý ( theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/01/2020 ).

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại đủ tài sản và không có yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vỏ Hoàng H phải chịu 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhưng xin Hội đồng xét xử xử nhẹ cho bị cáo để bị cáo đi làm phụ giúp cha mẹ trang trải cuộc sống.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Vỏ Hoàng H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung Cáo trạng đã nêu: Khoảng 01 giờ ngày 20/10/2019 H đã thực hiện hành vi trộm tài sản của anh Hứa Tiến T gồm 01 điện thoại di động hiệu Lenovo đã qua sử dụng có giá trị 150.000đ, 01 Laptop hiệu Dell có giá 11.672.000đ, tổng giá trị tài sản là 11.822.000đ.

Lời trình bày và khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan cảnh sát điều tra cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khách quan kết luận bị cáo Vỏ Hoàng H phạm tội “ trộm cắp tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4 Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo đã xâm phạm một cách trái pháp luật đến quyền sở hữu về tài sản của người khác. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, mục đích để tiêu xài cá nhân. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên xét xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Vĩnh Long là có căn cứ và đúng pháp luật.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như sau:

Bị cáo phạm tội nhất thời phạm tội mang tính cơ hội, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại đã nhận lại đủ tài sản và không có yêu cầu gì đối với bị cáo. Xét thấy hiện bị cáo tuy vẫn đi làm có thu nhập nhưng thu nhập của bị cáo chỉ đảm bảo một phần thiết yếu cho đời sống hơn nữa thu nhập của bị cáo còn phải phụ giúp cho cha mẹ trang trải sinh hoạt hàng ngày nên không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại đủ tài sản, không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đoạn kim loại màu trắng có tổng chiều dài 2,40m hiện Cơ quan Thi hành án dân sự huyện L đang quản lý ( theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/01/2020 ).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Vỏ Hoàng H phải chịu 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng ).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 và điểm i, s, khoản 1 Điều 51 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

1. Tuyên bố: Bị cáo Vỏ Hoàng H phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”

Xử phạt bị cáo Vỏ Hoàng H 01 ( một ) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 ( hai ) năm tính từ ngày tuyên án ( ngày 02/3/2020 ).

Giao bị cáo Vỏ Hoàng H cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại đủ tài sản, không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy đoạn kim loại màu trắng có tổng chiều dài 2,40m hiện Cơ quan Thi hành án dân sự huyện L đang quản lý ( theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/01/2020 ).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Vỏ Hoàng H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo; có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc nhận được bản án.

Cỡ chữ