- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh H, Nguyễn Duy L - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H (tên gọi khác là T) và Nguyễn Duy L phạm tội “cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2020/HS-ST Ngày: 24-4-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Phi;
2. Bà Nguyễn Thị Thu Thu.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Thế Duẩn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2020/HSST-QĐ ngày 09 tháng 4 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Thanh H (tên gọi khác là T), sinh năm 1998, tại Bình Dương; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Khu phố 7, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1970; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Ngày 24/8/2017, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội cố ý gây thương tích theo bản án số 44/2017/HSST ngày 24/8/2017, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 12/01/2015, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo bản bán số 01/2015/HSST ngày 12/01/2015. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 01/9/2019 cho đến nay. Có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Duy L, sinh năm 2000, tại Bình Dương; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Khu phố 2, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1977; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 10/12/2019 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Đức A (tên gọi khác là T2), sinh năm 1988. Địa chỉ: Khu phố 4A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Hộ kinh doanh Karaoke M. Địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của Hộ kinh doanh Karaoke M: Bà Nguyễn Thúy H1, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số 237, ĐL B, phường P, thành phố G, tỉnh Bình Dương là người đại diện theo pháp luật. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1970. Địa chỉ: Khu phố 7, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 01/9/2019, tại quán Karaoke M thuộc khu phố 2, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương có 02 nhóm thanh niên hát karaoke tại quán, cụ thể như sau:
Nhóm thứ nhất hát karaoke tại phòng số 17 gồm: Bị hại Nguyễn Đức A (tên gọi khác là T2); Nguyễn Tuấn F, sinh năm 1994, cư trú tại khu phố 6, thị trấn D; Nguyễn Văn V, sinh năm 1986, cư trú tại khu phố 2, thị trấn D; Võ Minh J, sinh năm 1993, cư trú tại xã B1, thành phố T4, tỉnh Tây Ninh cùng khoảng 04 người khác (không xác định nhân thân, lai lịch).
Nhóm thứ hai hát karaoke tại phòng số 03 và 04 gồm: Nguyễn Thanh H (tên gọi khác là T); Nguyễn Duy L và Phạm L2, sinh năm 1991 cư trú tại khu phố 4A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương; Lê Văn K, sinh năm 1995, cư trú tại khu phố 5, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương; Dương Quốc X, sinh năm 1993, cư trú tại khu phố 4B, thị trấn D, huyện D; Nguyễn Khắc M1, sinh năm 1998, cư trú tại xã Định H, huyện D; Nguyễn Huỳnh A1 (Phúc), sinh năm 1990, cư trú tại xã O, huyện D; Nguyễn Thị Linh N, sinh năm 1994, cư trú tại khu phố 2, thị trấn D; Nguyễn Thị Kiều P, sinh năm 1993; Nguyễn Thế P1, sinh năm 1991 cùng cư trú tại khu phố 4A, thị trấn D và khoảng 02 đến 03 người khác (chưa xác định được nhân thân, lai lịch).
Đến khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, nhóm của Phạm L2 (khoản 05 người) đi vào phòng karaoke số 17 để tìm người quen nhưng Nguyễn Đức A cản lại không cho vào nên hai nhóm thanh niên xảy ra cự cãi, xô xát và đánh nhau.
Nhận được tin báo, Công an thị trấn D đã có mặt tại hiện trường để giải quyết vụ việc. Khi lực lượng Công an có mặt, thì nhóm của Phạm L2 ra ngoài lấy xe đi về. Lúc này, Nguyễn Đức A tiếp tục cầm khoảng 04 đến 05 cái ly dùng uống bia (loại ly thủy tinh) đuổi theo Phạm L2 và ném vào người Phạm L2 nhưng không trúng L2 mà trúng vào người Nguyễn Thanh H (nhưng không gây thương tích), bực tức H quay lại dùng nón bảo hiểm đang đội cởi ra đánh liên tiếp 02 đến 03 cái vào người A làm A ngã xuống thềm trước cửa quán. Khi thấy A ngã xuống H cùng với Nguyễn Duy L tiếp tục dùng chân dẫm và đạp nhiều cái vào người và đầu A gây thương tích. Cùng lúc này, lực lượng Công an bắt giữ H đưa về trụ sở làm việc, đồng thời đưa A đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa cao su D, sau đó A được chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương để tiếp tục chữa trị. Riêng Nguyễn Duy L đã bỏ trốn sau khi gây án, đến ngày 10/12/2019 đến đầu thú tại Công an huyện D.
Ngày 05/9/2019, Nguyễn Đức A có đơn yêu cầu giám định thương tích và yêu cầu khởi tố vụ án đối với Nguyễn Thanh H và Nguyễn Duy L.
Thương tích của Nguyễn Đức A thể hiện tại Giấy chứng nhận thương tích số 2181/CN ngày 26/9/2019 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương thể hiện như sau: Chấn thương vùng thái dương bên phải, vết thương dài 2,5 cm, sâu 0,5 cm, sưng nề. Chảy máu lỗ tai phải, chẩn đoán: Theo dõi chấn thương sọ não.
Kết quả xác minh tình trạng thương tích của Nguyễn Đức A tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương vào ngày 11/9/2019 thể hiện như sau:
Tình trạng thương tích lúc vào viện:
- Bệnh nhân tỉnh G15đ;
- Niêm hồng. Đau đầu, không yếu liệt chi.
- Vết thương thái dương đỉnh phải khoảng 2,5 cm (đã khâu);
- Chảy máu tai phải (đã cầm).
- Tim đều, phổi không ran, bụng mềm.
Kết quả chụp cắt lớp vi tính sọ não không thuốc cản quang:
- Máu tụ ngoài màng cứng thái dương phải.
Tình trạng thương tích lúc ra viện:
- Bệnh nhân tỉnh G15đ;
- Niêm hồng. Hết đau đầu, không yếu liệt chi.
- Vết thương đầu khô, tai phải hết chảy máu.
- Tim đều, phổi không ran, bụng mềm.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 444/2019/GĐPY ngày 09/10/2019 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bình Dương kết luận:
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Nguyễn Đức A là 23%.
Cơ chế hình thành vết thương:
- Vết thương thái dương – đỉnh phải: sẹo chiều nằm ngang, hướng từ phải qua trái, bờ không rõ, khả năng do vật tày gây ra.
- Chấn thương tai phải: hiện đã lành, không có dấu vết thương tích nên không xác định được cơ chết hình thành vết thương.
Đối với nón bảo hiểm, màu Xanh da trời, kiểu: Đội nửa đầu,loại: Nón sơn, Nguyễn Thanh H dùng đánh bị hại Nguyễn Đức A sau đó vứt bỏ tại quán Karaoke Moon không thu hồi được.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh H, Nguyễn Duy L thông qua bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1970, cư trú tại khu phố 7, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương (là mẹ ruột của Nguyễn Thanh H) đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Nguyễn Đức A số tiền là 25.000.000 đồng.
Theo Cáo trạng số 07/CT-VKSDT-HS ngày 17 tháng 02 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh H và Nguyễn Duy L về tội “cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh H và Nguyễn Duy L phạm tội cố ý gây thương tích.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra, các bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như: Bị hại cũng có một phần lỗi, bị hại đã xin bãi nại cho các bị cáo, bị cáo L tự nguyện ra đầu thú, gia đình bị cáo H có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo H là lao động chính trong gia đình.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H có một tiền án về tội cố ý gây thương tích chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về hình phạt:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H từ 30 tháng đến 32 tháng tù,
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Duy L từ 24 tháng đến 26 tháng tù;
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
Tại phiên tòa, hai bị cáo Nguyễn Thanh H và Nguyễn Duy L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo H xác định có tác động gia đình để bồi thường thiệt hại cho bị hại. Bị cáo L xác định có góp số tiền 3.000.000 đồng trong tổng số tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại. Hai bị cáo không tranh luận gì về tội danh, điều khoản truy tố mà đại diện Viện kiểm sát đưa ra. Lời nói sau cùng: Hai bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về lo cho gia đình.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà L1 xác định tiền bồi thường 25.000.000 đồng là có phần góp của bị cáo L và có sự tác động của bị cáo H. Bà Lan không có yêu cầu gì đối với các bị cáo liên quan đến số tiền bồi thường thiệt hại nói trên. Bà L1 không có tranh luận đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt bị hại ông A, đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Hằng. Xét thấy, ông A, bà Hằng đã có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt, lời khai trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, sự vắng mặt của ông A, bà Hằng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh H và Nguyễn Duy L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của hai bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Có cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ 55 phút, ngày 01/09/2019, tại quán Kaoke Moon thuộc khu phố 2, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương. Nguyễn Thanh H và Nguyễn Duy L có hành vi dùng nón bảo hiểm và dùng chân dẫm, đạp vào người (vùng đầu, mặt) của bị hại Nguyễn Đức A gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại 23%.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền được bảo vệ về sức khỏe, tính mạng của người khác mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, các bị cáo biết được mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật đến tính mạng, sức khỏe của người khác đều phải bị pháp luật trừng trị, thế nhưng chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ các bị cáo đã thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo Nguyễn Thanh H đã dùng hung khí là nón bảo hiểm đập từ trên xuống và dùng chân đạp vào người bị hại, còn bị cáo Nguyễn Duy L dùng chân đạp vào bị hại cùng gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ thương tật 23% thể hiện tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 444/2019/GĐPY ngày 09/10/2019 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bình Dương. Hung khí mà bị cáo H sử dụng theo hướng dẫn tại Tiểu mục 3.1 Mục 3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là hung khí nguy hiểm.
Hai bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn đều với vai trò thực hành và không có sự bàn bạc, phân công trước. Bị cáo H khi bị bị hại ném ly thủy tinh trúng vào người đã không kiềm chế được nên đã dùng nón bảo hiểm và chân đánh bị hại gây thương tích. Bị cáo L khi thấy bị cáo H (là người quen của bị cáo) đánh bị hại không những không can ngăn mà còn thực hiện hành vi đạp chân vào bị hại gây thương tích. Hành vi của hai bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Do đó, Cáo trạng số 07/CT-VKSDT-HS ngày 17 tháng 02 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh H và Nguyễn Duy L về tội “cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H có một tiền án về tội cố ý gây thương tích chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hai bị cáo đã có tác động gia đình bồi thường thiệt hại có bị hại, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra, các bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như: Bị hại cũng có một phần lỗi, bị hại đã xin bãi nại cho các bị cáo, bị cáo L tự nguyện ra đầu thú, gia đình bị cáo H có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo H là lao động chính trong gia đình. Hội đồng xét xử cân nhắc giảm một phần hình phạt cho các bị cáo khi quyết định hình phạt để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
Sau khi xét xét đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cần thiết phải xử phạt các bị cáo với mức hình phạt tù giam tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đủ thời gian để các bị cáo tự nhận thức, sửa chữa lỗi lầm của mình và giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với nón bảo hiểm, màu Xanh da trời, kiểu: Đội nửa đầu,loại: Nón sơn, Nguyễn Thanh H dùng đánh bị hại Nguyễn Đức A sau đó vứt bỏ tại quán Karaoke M. Do, không thu giữ được trong quá trình điều tra nên ngày 03/12/2019, Cơ quan điều tra đã ra Thông báo truy tìm vật chứng số 802/TB truy tìm chiếc nón bảo hiểm nêu trên, tuy nhiên đến nay vẫn không tìm thấy. Khi nào tìm được, sẽ xử lý sau là phù hợp.
Xét ý kiến luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với các bị cáo về phần tội danh, điều khoản áp dụng, mức hình phạt là có căn cứ phù hợp với các tình tiết của vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 136, 260, 262, 292, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H (tên gọi khác là T) và Nguyễn Duy L phạm tội “cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H (tên gọi khác là T) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/9/2019.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Duy L 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/12/2019.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh H (tên gọi khác là T) phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
Buộc bị cáo Nguyên Duy L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24.4.2020).
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Phòng PV 27 Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Dầu Tiếng; - Công an huyện Dầu Tiếng; - CC THADS huyện Dầu Tiếng; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Tuyền |