- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự Giàng A T - phạm tội vô ý làm chết người (điều 128 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Giàng A T phạm tội Vô ý làm chết người.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH HÀ GIANG Bản án số: 11/2020/HS-ST Ngày 20-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Văn Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Mận.
Ông Nông Xuân Cương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Xuân Đạt - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang: Ông Ngô Quang Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở nhà văn hóa trung tâm xã M, huyện B, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2020/TLST-HS ngày 04/6/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2020 đối với:
1. Bị cáo: Giàng A T; Sinh năm 1969; Nơi sinh: Xã M, huyện B, tỉnh Hà Giang; Nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện B, tỉnh Hà Giang; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 2/10; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Giàng A S, sinh năm 1948 (đã chết) và con bà: Lý Thị B, sinh năm 1939; Có 04 chị em ruột, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình; Có vợ: Giàng Thị M, sinh năm 1972 (chết năm 2011) và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1988, con nhỏ nhất sinh năm 2001; Tiền sự, tiền án: Không; Nhân thân: Không; Tạm giữ ngày 06/3/2020; Tạm giam ngày 15/3/2020:. Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện B, tỉnh Hà Giang (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Giàng A T.
Ông: Cao Xuân B - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Giang (Có mặt).
2. Bị hại: Ông Giàng A P; Sinh năm 1967 (đã chết tháng 3/2020).
Người đại diện hợp pháp bị hại: Anh Giàng A H; Sinh năm 1996.
Nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện B, tỉnh Hà Giang.
(Có mặt).
3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
- Chị: Hoàng Thị H; Sinh năm 1964.
Nơi cư trú: Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Hà Giang.
(Có mặt)
3. Người tham gia tố tụng khác
- Người làm chứng:
+ Anh: Giàng A K; Sinh năm 1981.
Nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện B, tỉnh Hà Giang (Có mặt).
+ Anh: Giàng A T1; Sinh năm 2001.
Nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện B, tỉnh Hà Giang (Có mặt).
- Người phiên dịch tiếng Mông: Bà Dương Thị Ngọc T; Sinh năm 1981.
Nơi công tác: Ủy ban mặt trận tổ quốc huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
(Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 06/3/2020 Giàng A T đang ở nhà thấy Giàng A K (người cùng thôn), gọi điện thoại thông báo cho biết “khu rừng núi đá Khuổi Lếch (gọi theo tiếng địa phương) có nghe tiếng khỉ kêu” khi nghe điện thoại xong T lấy khẩu súng kíp dấu ở nhà rồi đi bộ được khoảng 50m T lấy 01 túi vải màu đỏ giấu trong hang đá bên trong túi có 02 lọ nhựa màu trắng (01 lọ chứa thuốc súng, 01 lọ chứa 04 kíp nổ tự chế), 01 túi nilon màu trắng đựng nhiều viên bi kim loại màu đen để làm đạn súng, sau đó T tiếp tục đi bộ đến khu rừng khuổi Lếch dừng lại nạp thuốc đạn vào khẩu súng kíp, xong tiếp tục đi về phía núi đá khu rừng già tự nhiên cách khoảng 500 đến 600m, lúc đó khoảng 08 giờ 45 phút T phát hiện hang đá, cạnh hang đá có 01 gốc cây tự nhiên, xung quanh có nhiều cây cối rậm rạp, độ dốc cao 800 (theo biên bản khám nghiệm hiện trường) và nhiều sương mù bao phủ chọn vị trí trên để ngồi quan sát và chờ để săn bắn khỉ khoảng 05 phút T lấy trong túi vải một lọ nhựa chứa kíp nổ, sau đó lấy 01 kíp nổ ra rồi kẹp vào vành tai phải tiếp tục quan sát động tĩnh tiếng khỉ kêu, được khoảng 10 phút phát hiện phía ta luy âm cách vị trí T ngồi 14m (theo biên bản khám nghiệm hiện trường) có hình ảnh giống đầu khỉ đang thập thò, T trong tư thế khom người dương súng lên ngắm bắn, dùng tay phải bẻ búa đập rồi cầm kíp kẹp ở vành tai phải cho vào lỗ kim hỏa của súng rồi bóp cò. Sau khi bắn súng nổ T đi xuống vị trí vừa ngắm bắn phát hiện Giàng A P, sinh năm 1967 là người cùng thôn, đồng thời là thông gia với T nằm bất động máu ở vùng đầu chảy nhiều đã tử vong, T đi bộ về lều nương gia đình ông P gặp con của P là Giàng A H, sinh năm 1996 kể toàn bộ sự việc rồi cùng H đi lên vị trí Giàng A P đang nằm cõng về lều nương rồi cùng mọi người đưa ông P về nhà.
Biên bản khám nghiệm hiện trường: Ngày 06/3/2020 xác định khu rừng Khuổi Lếch thuộc Thôn L, xã M, huyện B, khu vực khám nghiệm hiện trường là khu vực đất đá có độ dốc 850 theo hướng Bắc xuống Nam. Vị trí số 1 là vị trí Giàng A T ngắm bắn trên mặt phẳng rộng 0,8m x dài 0,9m theo hướng từ trên xuống hướng ta luy âm (chiều hướng từ Bắc xuống Nam) cách vị trí Giàng A T ngắm bắn 14m về hướng Nam phát hiện nhiều cành cây nhỏ bị bẻ gẫy, có 01 đôi ủng màu xanh và 01 chiếc mũ lưỡi trai, mặt sau của mũ lưỡi trai phát hiện 05 lỗ thủng hình tròn màu đen kiểm tra dưới nền đất phát hiện 01 vũng loang lổ màu nâu dài 9cm x rộng 12cm được xác định là vị trí số 2, cách vị trí số 2 về hướng Tây Bắc 1,2m phát hiện 01 khẩu súng kíp đã lên sẵn cò và nhồi thuốc súng sau khi khám nghiệm hiện trường các vật chứng trên đã được thu giữ theo quy định của pháp luật.
Biên bản khám nghiệm tử thi: Ngày 06/3/2020 xác định các dấu vết tổn thương trên cơ thể: Phía ngoài da phần đầu vùng đỉnh chẩm có nhiều vết xây sát, thủng da kích thước to nhỏ khác nhau, vùng da có vết thủng lớn nhất kích thước 0,2cm x 0,3cm bờ mép bầm dập nham nhở sờ ấn có lợn gợn dị vật cứng. Vùng cổ sau, vùng vai, bả vai có 08 vết thủng da bầm tụ máu, trong đó có 04 vết thủng sờ nắn dưới da dạng lợn gợn có dị vật cứng. Mổ tử thi vùng đầu dưới da vùng đỉnh chẩm bầm tụ máu có các dị vật cứng hình dạng tròn tương ứng với các vết thủng da bên ngoài. Xương hộp sọ vùng đỉnh chẩm có 05 lỗ thủng dạng hình tròn, lỗ thủng mở theo hướng từ ngoài vào trong rách màng cứng, tổ chức não dập nát lẫn với các mảnh xương vỡ và dị vật kim loại màu đen. Quá trình mổ tử thi thu được 05 di vật kim loại màu đen.
Bản kết luận giám định pháp y tử thi: Ngày 16/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang kết luận nguyên nhân chết của ông Giàng A P là do vết thương xuyên thấu tổ chức não do dị vật kim loại.
Ngày 16/3/2020 Cơ quan CSĐT Công an huyện B có Quyết định trưng cầu giám định khẩu súng Giàng A T giao nộp; giám định chất bột màu đen trong hộp nhựa; giám định các dị vật kim loại thu trên người tử thi Giàng A P gửi Viện khoa học hình sự C09 Bộ Công an.
Tại các bản kết luận số 1525 ngày 27/3/2020 và số 1545 ngày 31/3/2020 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận. Chất bột màu đen gửi giám định là thuốc nổ đen, thuốc nổ đen thường được dùng làm liều phóng trong các loại đạn tự chế. Khẩu súng gửi giám định là súng kíp tự chế, thuộc súng săn, không phải vũ khí quân dụng và không có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng. Hiện tại súng còn sử dụng được và khi bắn đạn vào cơ thể người gây chết hoặc bị thương. 05 viên bi bằng kim loại màu đen gửi giám định là thành phần của đạn thường được dùng nhồi trong nòng súng kíp và sử dụng được cho khẩu súng gửi giám định.
Vật chứng cơ quan điều tra thu giữ gồm:
- 01 khẩu súng kíp dài 1,47m có nòng bằng kim loại màu đen, báng súng, ốp nòng làm bằng gỗ màu vàng; 01 thanh kim loại màu đen dài 1,25m gắn dọc theo nòng súng; 01 lọ thuốc súng bằng nhựa màu trắng có nắp bằng gỗ bên trong có ½ thuốc súng; 05 viên bi bằng kim loại màu đen;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen bàn phím màu trắng đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu KECHAODA loại K35 màu vàng đen đã qua sử dụng; 01 đôi ủng màu xanh, sizi 42 đã qua sử dụng.
- 01 khẩu súng kíp dài 1,8m có nòng bằng kim loại màu đen dài 1,46m, báng súng, ốp nòng được làm bằng gỗ màu nâu. 01 thanh kim loại dài 1,45m dùng để thông nòng súng.
- 01 mũ lưỡi chai họa tiết hoa văn rằn ri phía trên đỉnh mũ có 05 lỗ thủng đã qua sử dụng;
Về nguồn gốc khẩu súng: Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã tiến hành xác minh nguồn gốc của 02 khẩu súng kíp, 01 lọ thuốc súng, 05 viên bi bằng kim loại kết quả xác định như sau:
Đối với 01 khẩu súng kíp dài 1,47m có nòng bằng kim loại màu đen, báng súng, ốp nòng làm bằng gỗ màu vàng; 01 thanh kim loại màu đen dài 1,25m gắn dọc theo nòng súng Giàng A T khai nhận tháng 10/2019 (không nhớ ngày) T mua khẩu súng kíp của ông Sùng A T sinh năm 1947, trú tại thôn Lùng Bẻ, xã K, huyện V, tỉnh Hà Giang giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng) kết quả xác minh năm 2019 ông T đã chết do bệnh tật.
Đối với thuốc súng và các viên bi bằng kim loại Giàng A T khai mua của bà Hoàng Thị H sinh năm 1964, trú tại thôn N, xã M, huyện B đi chợ phiên xã M tháng 02/2020 giá 16.000đ (mười sáu nghìn đồng) quá trình điều tra xác minh bà H khai chỉ bán chất bột màu trắng (diêm sinh) và các viên bi sắt cho Giàng A T sau khi mua được chất bột màu trắng (diêm sinh) T đem về giã, trộn với bột than củi để chế thành thuốc súng T sử dụng cho việc săn bắn.
Đối với 01 khẩu súng kíp dài 1,8m có nòng bằng kim loại màu đen dài 1,46m, báng súng, ốp nòng được làm bằng gỗ màu nâu; 01 thanh kim loại dài 1,45m dùng để thông nòng súng của ông Giàng A P quá trình điều tra xác định ngày 06/3/2020 Giàng A P từ lều nương của mình mang theo 01 khẩu súng kíp đi lên khu rừng núi đá Khuổi Lếch để săn khỉ, sau đó bị Giàng A T bắn nhầm gây tử vong về nguồn gốc khẩu súng gia đình ông P không biết khẩu súng kíp trên có từ khi nào.
Đối với 01 túi vải màu đỏ đựng 01 lọ nhựa màu trắng bên trong có 03 kíp nổ tự chế sau khi bắn nhầm ông P chết Giàng A T sợ hãi đã vứt túi vải có lọ nhựa đựng kíp nổ trên rừng không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 26/3/2020 đại điện gia đình bị cáo đã thoả thuận bằng văn bản mức bồi thường cho đại diện hợp pháp bị hại anh Giàng A H chi phí mai táng cho ông P số tiền 14.093.000đ. Tại phiên tòa đại diện gia đình bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thêm tiền tổn thất về tinh thần 10.000.000đ, ngoài ra không yêu cầu bồi thường thêm các khoản tiền nào khác.
Tại phiên tòa lời khai của bị cáo; Đại diện bị hại; Người làm chứng; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt khai, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, biên bản tạm giữ vật chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 11/CT-VKSBM ngày 04/6/2020 của VKSND huyện Bắc Mê truy tố Giàng A T về tội Vô ý làm chết người, theo khoản 1 Điều 128 của Bộ luật hình sự. Tại phiên toà đại diện VKS giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử.
- Tuyên bố bị cáo: Giàng A T phạm tội Vô ý làm chết người.
- Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 128; Điều 38; Điều 50; Điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Giàng A T từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 06/3/2020.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 357, Điều 468, Điều 584, 585, 586, 591, 601 Bộ luật dân sự; điểm a khoản 2 Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự. Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại về mức bồi thường tiền tổn thất về tinh thần 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, Điều 106 Bộ luât Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) khẩu súng kíp dài 1,47m cả báng, báng súng và ốp nòng màu vàng, được dán giấy niêm phong ở phần cò súng và đầu nòng, trên giấy có chữ ký những người tham gia niêm phong và đóng dấu Viện khoa học hình sự C09 Bộ công an và 01 (một) thanh kim loại dài 1,25m gắn dọc theo nòng súng; 01 (một) khẩu súng kíp dài 1,8m, có nòng bằng kim loại màu đen dài 1,46m, báng súng và ốp nòng bằng gỗ màu nâu và 01 (một) thanh kim loại dài 1,45m gắn dọc theo nòng súng; 01 (một) Lượng chất bột màu đen được đựng trong 01 (một) lọ nhựa màu trắng được niêm phong bằng các chữ ký. Giao cho Bộ chỉ huy quân đội tỉnh Hà giang tiêu hủy theo quy định.
Tịch thu tiêu hủy: 05 (năm) viên bi bằng kim loại màu đen đã được đánh số ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5 đựng trọng 01 hộp nhựa bên ngoài dán niêm phong có chữ ký những người tham gia niêm phong và đóng dấu của Viện khoa học hình sự C09 Bộ công an; 01 mũ lưỡi trai họa tiết hoa văn rằn ri phía trên đỉnh mũ có 05 lỗ thủng đã qua sử dụng.
- Về án phí: Bị cáo được miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch theo điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 16 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tại phiên tòa Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý bào chữa cho bị cáo Giàng A T đồng tình với quan điểm của KSV đề nghị, xét xử bị cáo phạm tội Vô ý làm chết người. Tuy nhiên, xét về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp 2/10, nhận thức pháp luật hạn chế, sau khi phạm tôi bị cáo rất hối hận đã đến Công an xã M tự thú và giao nộp vũ khí. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại số tiền 14.093.000đ, đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 128; điểm b, r, s khoản 1 và khoản 2, Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; xử bị cáo Giàng A T từ 12 tháng tù cho hưởng án treo. Về án phí: áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH bị cáo thuộc hộ cận nghèo cho được miễn toàn bộ tiền án phí theo quy định; Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong tiền mai táng phí, tại phiên tòa đại diện bị hại với bị cáo thỏa thuận, bị cáo bồi thường thêm tiền tổn thất về tinh thần 10.000.000đ là có cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử công nhận.
Tranh luận tại phiên tòa
Bị cáo, đại diện bị hại đồng ý với quan điểm của Luật sư trợ giúp viên pháp lý đề nghị, không thay đổi bổ sung gì thêm.
Bị cáo thực hiện quyền nói lời sau cùng xin lỗi gia đình bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để về đoàn tụ cùng với gia đình, người thân và trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Mê, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, Kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và lời khai đại diện hợp pháp của bị hại, người có nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ sáng ngày 06/3/2020 Giàng A T, từ nhà mang theo 01 khẩu súng kíp (dạng súng tự chế) kèm thuốc súng, đạn súng và kíp nổ đi lên khu rừng núi đá Khuổi Lếch (gọi theo tiếng địa phương) thuộc Thôn L xã M, huyện B. Mục đích để săn bắn Khỉ, quá trình ngồi dình bắn khỉ phát hiện có hình ảnh thập thò do có nhiều sương mù, xung quanh có nhiều cây tầm nhìn che khuất T tưởng là khỉ nên dương súng bắn vào vị trí đó, sau đó đi đến nơi thì phát hiện bị bắn nhầm Giàng A P người cùng thôn cũng đi săn bắn thú rừng. Hậu quả Giàng A P dẫn đến tử vong tại chỗ. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Vô ý làm chết người theo khoản 1 Điều 128 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra: Là thuộc trường hợp nghiêm trọng nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tính mạng, đến quyền được sống của người khác, là khách thể quan trọng được luật hình sự bảo vệ. Mặc dù Nhà nước đã có chủ trương, chính sách về quản lý, sử dụng các loại súng săn, súng tự chế, nhưng bị cáo không tự giác giao nộp vũ khí cho cơ quan chức năng khi được vận động, tuyên truyền mà vẫn cố ý cất dấu súng để sử dụng súng tự chế để đi săn thú rừng, từ khi mua súng về theo bị cáo khai đã tham gia săn bắn 10 lần, dẫn đến hậu quả bắn nhầm Giàng A P tử vong. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, dân sự, nhận thức được hành vi săn bắn thú rừng là trái pháp luật, nhưng vì mục đích bắn thú rừng để phục vụ nhu cầu trong sinh hoạt gia đình. Tuy nhiên, hành vi phạm tội bị cáo ngoài ý muốn nhưng hậu quả đã xảy ra để lại đau thương cho gia đình và người thân của nạn nhân với những tổn thất về tinh thần không thể bù đắp được, hậu quả gia đình mất đi người thân, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã M nói riêng và địa bàn huyện B nói chung. Để đấu tranh phòng ngừa tội phạm lập lại trật tự an toàn xã hội, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ thời gian để bị cáo cải tạo, rèn luyện trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong vụ án, không có; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội bị cáo tự thú khai báo hành vi phạm tội, quá trình điều tra, tại phiên tòa thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả một phần cho gia đình bị hại, bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn hộ cận nghèo xác nhận chính quyền địa phương, là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật hạn chế học vấn 2/12, người đại diện hợp pháp bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy cần áp dụng điểm b, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, Hội đồng xét xử, xét thấy cần tiếp tục quyết định tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án quy định tại Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trong vụ án này có đối tượng liên quan: Giàng A T ngoài hành vi vô ý làm chết người bị truy tố ra còn có hành vi sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ không có giấy phép theo quy định của Nhà nước quá trình điều tra xét thấy chưa đến mức xử lý hình sự cơ quan CSĐT Công an huyện đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Giàng A T. Đối với Hoàng Thị H có bán chất bột màu trắng (diêm sinh) cho Giàng A T sau đó T đem về tự chế thành thuốc súng nên không có căn cứ cơ sở xử lý đối với Hoàng Thị H. Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những căn cứ trên, xét thấy, mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo về hình phạt, xử lý vật chứng, và miễn án phí đối với bị cáo có căn cứ chấp nhận.
Tại phiên tòa Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý bào chữa cho bị cáo, đề nghị về mức án xử phạt bị cáo Giàng A T 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, là không đủ dăn đe tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo gây ra, vì hiện nay phong tục, tập quán của một số đồng bào dân tộc thiểu số, cụ thể là dân tộc Mông hay tự chế súng kíp để săn bắn thú rừng có tính sát thương rất cao là vi phạm quy định của pháp luật, mặc khác cơ quan, đơn vị có chức năng, thẩm quyền đã tuyên truyền, vận động nhân dân không chế tạo, vũ khí thô sơ, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ... săn bắn thú rừng, nhưng vẫn diễn ra rất phức tạp, chính vì lý do đó nên không chấp nhận cho bị cáo hưởng mức án treo. Về miễn tiền án phí đối với bị cáo có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.
Trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường tiền mai táng phí cho gia đình bị hại là 14.093.000đ và lập thành văn bản lưu hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận với bị cáo bồi thường thêm khoản tiền tổn thất về tinh thần 10.000.000đ cho anh Giàng A H đại diện bị hại, xét thấy việc thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện là có căn cứ, phù hợp với khoản 2 Điều 591 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử lý:
Đối với 01 (một) khẩu súng kíp dài 1,47m cả báng, báng súng và ốp nòng màu vàng, được dán giấy niêm phong ở phần cò súng và đầu nòng, trên giấy có chữ ký những người tham gia niêm phong và đóng dấu Viện khoa học hình sự C09 Bộ công an và 01 (một) thanh kim loại dài 1,25m gắn dọc theo nòng súng; 01 (một) Lượng chất bột màu đen được đựng trong 01 (một) lọ nhựa màu trắng được niêm phong, khẩu súng của bị cáo Giàng A T giao nộp là công cụ sử dụng vào việc phạm tội; 01 (một) khẩu súng kíp dài 1,8m, có nòng bằng kim loại màu đen dài 1,46m, báng súng và ốp nòng bằng gỗ màu nâu và 01 (một) thanh kim loại dài 1,45m gắn dọc theo nòng súng của bị hại Giàng A P sử dụng đi săn bắn thu tại hiện trường. Những vật chứng trên thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu, hiện vật chứng đang ở kho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Giang nên cần giao cho giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Giang tiêu hủy là phù hợp.
Đối với 05 (năm) viên bi bằng kim loại màu đen đã được đánh số ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5 đựng trọng 01 hộp nhựa bên ngoài dán niêm phong có chữ ký những người tham gia niêm phong và đóng dấu của Viện khoa học hình sự C09 Bộ công an, vật chứng trên thu giữ của bị cáo Giàng A T giao nộp là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, là những vật mà Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; Đôi với 01 mũ lưỡi trai họa tiết hoa văn rằn ri phía trên đỉnh mũ có 05 lỗ thủng đã qua sử dụng thu tại hiện trường. Những vật chứng trên không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Cơ quan điều tra khi thu giữ đã xác minh làm rõ, trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp Giàng A T 01 điện thoại; Giàng A K 01 điện thoại; Giàng A H 01 đôi ủng đúng quy định của pháp luật, nên không xem xét.
Về án phí: Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Giàng A T có đơn đề nghị miễn nộp án phí, chính quyền nơi cư trú chứng nhận thuộc hộ cận nghèo sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, là người dân tộc thiểu số nên được miễn toàn bộ án phí.
Quyền kháng cáo: Bị cáo; Đại diện hợp pháp bị hại; Người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Giàng A T phạm tội Vô ý làm chết người.
- Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 128; Điều 38; Điều 50; Điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Giàng A T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 06/3/2020. Tiếp tục tạm giam bị cáo Giàng A T để đảm bảo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 357, Điều 468, Điều 584, 585, 586, 591, 601 Bộ luật dân sự; điểm a khoản 2 Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự. Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Giàng A T và người đại diện hợp pháp cho gia đình bị hại anh Giàng A H.
Bị cáo Giàng A T bồi thường tiền tổn thất về tinh thần cho người đại diện hợp pháp người bị hại anh Giàng A H; Nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện B, tỉnh Hà Giang số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu số tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) khẩu súng kíp dài 1,47m cả báng, báng súng và ốp nòng màu vàng, được dán giấy niêm phong ở phần cò súng và đầu nòng, trên giấy có chữ ký những người tham gia niêm phong và đóng dấu Viện khoa học hình sự C09 Bộ công an và 01 (một) thanh kim loại dài 1,25m gắn dọc theo nòng súng; 01 (một) khẩu súng kíp dài 1,8m, có nòng bằng kim loại màu đen dài 1,46m, báng súng và ốp nòng bằng gỗ màu nâu và 01 (một) thanh kim loại dài 1,45m gắn dọc theo nòng súng; 01 (một) Lượng chất bột màu đen được đựng trong 01 (một) lọ nhựa màu trắng được niêm phong bằng các chữ ký. Giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H tiêu hủy theo quy định.
(Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/5/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H).
Tịch thu tiêu hủy: 05 (năm) viên bi bằng kim loại màu đen đã được đánh số ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5 đựng trọng 01 hộp nhựa bên ngoài dán niêm phong có chữ ký những người tham gia niêm phong và đóng dấu của Viện khoa học hình sự C09 Bộ công an; 01 mũ lưỡi trai họa tiết hoa văn rằn ri phía trên đỉnh mũ có 05 lỗ thủng đã qua sử dụng. Giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Hà Giang tiêu hủy theo quy định.
(Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/6/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B).
- Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Giàng A T được miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người đại diện hợp pháp bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh H; - VKSND huyện + tỉnh H; - Cơ quan CSĐT Công an huyện B; - Sở tư pháp tỉnh H; - Phòng PV06 CA tỉnh H; - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H; - Cơ quan THAHS CA huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - Bị cáo; Đại diện hợp pháp bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - UBND xã M; - Lưu: Hồ sơ vụ án & Hồ sơ THA HS. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Dương Văn Công |