vanban.org

Bản án 11/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 16/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố bị cáo Trần Đình L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56/BLHS. Xử phạt bị cáo Trần Đình L 24 (Hai tư) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đình luyện - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Trần Đình L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA BỂ
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2020/HS - ST
Ngày 16/7/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Thế Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Thăng Bắc

2. Ông Lưu Xuân Thảo

- Thư ký phiên toà: Bà Bào Kim Vân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Ma Thế Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2020, Tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2020/TLST - HS, ngày 03 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2020/QĐXXST - HS ngày 02 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Đình L (tên gọi khác: Không), sinh ngày 05 tháng 10 năm 1986 tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Đình L1 (Đã chết) và con bà Triệu Thị X; Vợ: Triệu Thị B; Con: Có 02 con, (con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2017). Tiền án: 01, tại bản án số: 37/2019/HSPT ngày 05/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xử phạt 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”, Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/02/2020 đến ngày 11/02/2020, sau đó thay đổi biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, nay bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Công an tỉnh Bắc Kạn, có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Phương Bằng - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn. (Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Triệu Thị B, sinh năm 1985. Trú tại: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. (Có mặt).

* Những người làm chứng:

- Bà Nình Thị N, sinh năm 1958; Trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. (Vắng mặt)

- Anh Lộc Văn Th, sinh năm 1982; Trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 05/02/2020, Công an huyện B nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, về việc có một đối tượng nam giới đang điều khiển xe mô tô theo đường 258 hướng về thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn có biểu hiện nghi vấn cất giấu trái phép chất ma túy, nên cử tổ công tác đi kiểm tra, rà soát. Hồi 16 giờ 00 phút cùng ngày, khi tổ công tác đến thôn N, xã Đ, huyện B thì phát hiện đối tượng đang điều khiển xe mô tô có đặc điểm trùng với tin báo, tổ công tác đã ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra, thấy vậy đối tượng đã vứt từ tay phải ra mương nước cạnh đường 01 gói nhỏ được gói bằng 02 lớp nilon có in chữ tiếp đến là lớp giấy màu trắng có in chữ bên trong có chứa chất dạng cục, bột màu trắng nghi là chất ma túy (heroine) nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ và niêm phong 01 gói nghi ma túy vào bì ký hiệu A1, ngoài ra, còn tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 bơm kim tiêm, 02 lọ nước cất, 01 xe mô tô biển kiểm soát 97B1 – 076.27, Trần Đình L thừa nhận 01 gói chứa chất dạng cục, bột màu trắng bị thu giữ là ma túy (Heroine).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở và các công trình phụ cận có liên quan của Trần Đình L ở thôn N, xã Q, huyện B. Kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ tài liệu, đồ vật gì có liên quan đến hành vi vi phạm của L.

Quá trình điều tra, bị cáo Trần Đình L khai nhËn: Bản thân là người nghiện ma túy (heroine) nên ngày 05/02/2020 L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B1 – 076.27 của gia đình từ xã Q, huyện B đến xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn với mục đích tìm mua ma túy về để sử dụng, khi đến xã M, Trần Đình L thấy một người đàn ông (không rõ danh tính) đứng cạnh đường có biểu hiện là người nghiện ma túy, nên dừng xe hỏi “anh có ma túy bán không” được người đàn ông trả lời là “có”, Trần Đình L đưa cho người đàn ông đó 1.000.000 đ (Một triệu đồng), sau đó người đàn ông đó đi khoảng 30 phút thì quay lại đưa cho 01 gói ma túy được gói bằng giấy trắng có in chữ, mua được ma túy Trần Đinh L lấy giấy nilon có in chữ gói lại cầm ở tay ga xe mô tô rồi đi về. Khi về đến thôn N, xã Đ, huyện B thì nhìn thấy Công an, do lo sợ nên đã vứt gói ma túy xuống mương nước cạnh đường. Công an huyện B tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 gói ma túy, loại heroine có khối lượng 3,03 gam của Trần Đình L vứt ra.

Tại Kết luận giám định số 39/KTHS-MT ngày 08/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: “Mẫu chất dạng cục, bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 3,03 g (Ba phẩy không ba gam)”.

Tại bản cáo trạng số: 10/CT-VKSBB ngày 31/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo Trần Đình L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều luật có nội dung như sau:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a.……

c. Heroine, ……có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;……

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trần Đình L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56; Điều 38/BLHS.

+ Xử phạt bị cáo Trần Đình L từ 24 (Hai tư) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng tù.

+ Tổng hợp hình phạt 21 (Hai mươi mốt) tháng tù theo bản án số: 37/2019/HS-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án, thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2020, được trừ số ngày bị tạm giữ (từ ngày 05/02/2020 đến ngày 11/02/2020).

+ Về hình phạt bổ sung: Theo pháp luật quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS đó là phạt tiền, theo các tài liệu có trong hồ sơ thì gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo của xã, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là “Phạt tiền” đối với bị cáo.

- Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T39 bên trong phong bì có chứa: Mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại là: 2,70 gam (Hai phẩy bảy mươi gam) cùng phong bì, bao gói cũ, tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi vụ Trần Đình L (1986) tàng trữ trái phép chất ma túy, ký hiệu T39, mặt sau phong bì có 03 chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Cong an tỉnh Bắc Kạn; 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong phong bì có chứa toàn bộ giấy gói ma túy thu được và phong bì niêm phong cũ; 01 (Một) xi lanh, 02 (Hai) lọ nước cất chưa qua sử dụng.

+ Trả lại cho bị cáo 01 (Một) điện thoại di động có bàn phím, nhãn hiệu Nokia màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

+ Trả lại cho chị Triệu Thị B 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter màu đỏ đen, biển kiểm soát 97B1 – 076.27 (không có giấy tò xe, có chìa khóa xe, xe vẫn hoạt động bình thường, xe cũ có nhiều vết xước, 2 gương còn nguyên vẹn) xe máy cũ đã qua sử dụng.

- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Bị cáo thuộc trường hợp được miễn tiền án phí.

Người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa cho rằng: Về tội danh và điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là đúng quy định pháp luật, tuy nhiên, xét đến hoàn cảnh gia đình của bị cáo, trình độ nhận thức và hiểu biết về pháp luật của bị cáo còn hạn chế. Do đó, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định mức hình phạt thấp nhất, thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Theo các biên bản lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa: Hồi 16 giờ 00 phút ngày 05/02/2020, tại thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Công an huyện B phát hiện, bắt quả tang Trần Đình L về hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy (Heroine) có khối lượng 3,03 gam, Trần Đình L khai do bản thân là người nghiện nên đi mua ma túy về để sử dụng. Hành vi của Trần Đình L thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an ở địa phương, cần xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự, nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đó là Tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52/BLHS; Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, cho nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ đó là "Người phạm tội thành khẩn khai báo” được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51/BLHS. Ngoài ra, bị cáo có bố là ông Trần Đình L1 là người có công với Nhà nước được nhà nước tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhì, cho nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51/BLHS. Hiện nay bị cáo Trần Đình L đang chấp hành án phạt tù theo bản án số: 37/2019/HSPT ngày 05/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn, xử phạt 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”, theo quy định tại Điều 56/BLHS về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, cho nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án. Do tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải có thời gian cải tạo đối với bị cáo, mới giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra vụ án, cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện B có thu giữ 01 (Một) phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T39 bên trong phong bì có chứa: Mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại là: 2,70g (Hai phẩy bẩy mươi gam) cùng phong bì, bao gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi vụ Trần Đình L (1986) tàng trữ trái phép chất ma túy, ký hiệu “T39”, mặt sau có 03 chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bắc Kạn; 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa toàn bộ giấy gói chất ma túy thu được và phong bì niêm phong cũ; 01 (Một) điện thoại di động có bàn phím, nhãn hiệu Nokia màu đen, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter màu đỏ đen, BKS: 97B1 – 076.27 (không có giấy tờ xe, có chìa khóa xe, xe vẫn hoạt động bình thường, xe có nhiều vết xước, 2 gương còn nguyên vẹn) xe máy cũ đã qua sử dụng; 01 (Một) xi lanh (Bơm kim tiêm) chưa qua sử dụng; 02 (Hai) lọ nước cất chưa qua sử dụng. Hội đồng xét xử xét thấy, đối với 01 (Một) phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T39 bên trong phong bì có chứa: Mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại là: 2,70g (Hai phẩy bẩy mươi gam) cùng phong bì, bao gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi vụ Trần Đình L (1986) tàng trữ trái phép chất ma túy, ký hiệu “T39”, mặt sau có 03 chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bắc Kạn; 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa toàn bộ giấy gói chất ma túy thu được và phong bì niêm phong cũ; 01 (Một) xi lanh (Bơm kim tiêm) chưa qua sử dụng; 02 (Hai) lọ nước cất chưa qua sử dụng không có giá trị tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo không liên quan đến vụ án, cho nên trả lại cho bị cáo; Đối với 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter màu đỏ đen, BKS: 97B1 – 076.27 (không có giấy tờ xe, có chìa khóa xe, xe vẫn hoạt động bình thường, xe có nhiều vết xước, 2 gương còn nguyên vẹn) xe máy cũ đã qua sử dụng đây là xe mô tô của chị Triệu Thị B, việc bị cáo sử dụng chiếc xe trên vào việc phạm tội bản thân chị Triệu Thị B không biết, do đó xét thấy cần trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Triệu Thị B.

Về hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 điều 249/BLHS đó là “Phạt tiền”, xét thấy tại biên bản xác minh có trong hồ sơ vụ án thể hiện bản thân bị cáo và gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, cho nên không áp dụng hình phạt bổ sung là “Phạt tiền” đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy trên, theo lời khai của bị cáo khai mua với một người đàn ông không quen biết tại khu vực đường thuộc xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Bị cáo thuộc trường hợp được miễn tiền án phí.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

* Tuyên bố bị cáo Trần Đình L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56/BLHS.

- Xử phạt bị cáo Trần Đình L 24 (Hai tư) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”,

- Tổng hợp hình phạt: 21 (Hai mốt) tháng tù tại bản án số: 37/2019/HSPT ngày 05/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là: 45 (Bốn mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2020, được trừ thời gian bị tạm giữ 06 ngày (từ ngày 05/02/2020 đến ngày 11/02/2020).

* Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T39 bên trong phong bì có chứa: Mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại là: 2,70g (Hai phẩy bẩy mươi gam) cùng phong bì, bao gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi vụ Trần Đình L (1986) tàng trữ trái phép chất ma túy, ký hiệu “T39”, mặt sau có 03 chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bắc Kạn; 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa toàn bộ giấy gói chất ma túy thu được và phong bì niêm phong cũ; 01 (Một) xi lanh (Bơm kim tiêm) chưa qua sử dụng; 02 (Hai) lọ nước cất chưa qua sử dụng.

+ Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, điện thoại đã qua sử dụng.

+ Trả lại chị Triệu Thị B 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter màu đỏ đen, BKS: 97B1 – 076.27 (không có giấy tờ xe, có chìa khóa xe, xe vẫn hoạt động bình thường, xe có nhiều vết xước, 2 gương còn nguyên vẹn) xe máy cũ đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện B với Chi cục thi hành án dân sự huyện B ngày 02/6/2020 ).

- Về án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí: Bị cáo Trần Đình Lđược miễn tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ