vanban.org

Bản án 11/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 27/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phí Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo Phí Văn Q 01 năm 06 tháng tù, thời gian tính từ ngày 18/12/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quyết- TT ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phí Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ÂN THI
TỈNH HƢNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------------------
Bản án số: 11/2020/HS- ST
Ngày 27 tháng 02 năm 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƢNG YÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà :

Ông Phạm Bá Hân

Các Hội thẩm nhân dân

: Ông Nguyễn Thanh Bình

Ông Trần Quang Chử

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hiền – Thư ký TAND huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Phúc- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 06/2020/HSST ngày 21/01/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2020/QĐXXST- HS ngày 13/02/2020 đối với:

Bị cáo: Phí Văn Q; sinh năm 1993; Giới tính: Nam

Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Trồng trọt. Chức vụ: không. Trình độ học vấn: 6/12.

Con ông Phí Văn C và bà Nguyễn Thị L

Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2019, chuyển tạm giam từ ngày 21/12/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Văn Đ sinh năm 1988 (vắng mặt)

Trú tại: Thôn T, xã H, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.

Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Quốc V (vắng mặt)

2. Ông Đặng Đình K (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 18/12/2019, Phí Văn Q điều khiển xe mô tô biển số 89H2-1525 của anh Nguyễn Văn Đ đi từ xưởng cơ khí Minh Đức (nơi Q đang làm thuê) đến khu vực bờ sông Kẻ Sặt thuộc địa phận thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương để mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực bờ sông Kẻ Sặt, Q gặp một người đàn ông khoảng 37 tuổi, không rõ tên, địa chỉ ở đâu, Q hỏi mua ma túy thì người đó đồng ý bán. Q mua 03 gói giấy bạc bên trong chứa chất ma túy dạng cục và bột màu trắng với giá 100.000 đồng/gói. Trên đường đi về, Q mua 03 xi lanh kim tiêm và 03 lọ nước Novocain tại một hiệu thuốc gần ngã tư T thuộc xã T, huyện Ân Thi. Q giấu 03 gói ma túy mua được vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng rồi cho tất cả vào 01 túi nilon. Lúc này khoảng 14 giờ cùng ngày, Q đang cầm trên tay trái túi nilon có đựng ma túy đi đến đoạn đường bê tông thuộc thôn Ngọc Nhuế, xã Tân Phúc để tìm nơi sử dụng chất ma túy thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ân Thi kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ: 03 gói giấy bạc đều có kích thước (1,4 x 0,6)cm bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột (Quyết khai là Heroine vừa mua về để sử dụng) niêm phong tại bì thư ký hiệu I; 03 xi lanh kim tiêm; 03 lọ nước Novocain chưa qua sử dụng; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, loại vỏ mềm kích thước (8,6 x 6)cm; 01 xe mô tô biển số 89H2- 1525; 01 túi nilon màu trắng kích thước (15x15) cm có hai quai xách dài 8cm.

Tại bản kết luận giám định số 32 ngày 20/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự -Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột niêm phong ký hiệu I có tổng khối lượng là 0,175g (Không phẩy một bẩy năm gam) là ma túy, loại Heroine. Hoàn lại 0,141g (Không phẩy một bốn một gam) Heroine trong niêm phong ghi số I giao cho Công an huyện Ân Thi quản lý.

Về vật chứng vụ án: Mẫu vật hoàn lại sau giám định là 0,141 gam Heroine trong niêm phong số 32/MT-PC09 cùng 03 xi lanh kim tiêm, 03 lọ nước Novocain, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, 01 túi nilon đã thu giữ hiện đang quản lý tại kho vật chứng Công an huyện Ân Thi chờ xử lý. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM có biển số 89H2-1525: Giấy đăng ký của xe mang tên Chu Văn T sinh năm 1982 ở thôn A, xã V, huyện Ân Thi, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Nguyễn Văn Đ. Anh Đ không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma túy. Ngày 13/01/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện Ân Thi trao trả cho anh Đ chiếc xe mô tô biển số 89H2-1525 cùng giấy đăng ký của xe. Anh Đ đã nhận lại và không có ý kiến, đề nghị gì.

Đối với người đàn ông bán ma túy, bị cáo không biết tên, địa chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Ân Thi không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên không có căn cứ để xử lý.

Tại bản cáo trạng số 09/QĐ- VKS ngày 20/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi đã truy tố Phí Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:

Tuyên bố: Bị cáo Phí Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt: Bị cáo Phí Văn Q từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời gian tính từ ngày 18/12/2019.

Về vật chứng : Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 0,141 gam Heroine trong niêm phong số 32/MT-PC09 cùng 03 xi lanh kim tiêm, 03 lọ nước Novocain, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, 01 túi nilon.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

Xét hoàn cảnh kinh tế khó khăn của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Tại phiên toà bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là trái pháp luật và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Ân Thi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như bản tường trình của bị can, biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai của người có QLNVLQ, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, kết luận giám định... Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 18/12/2019, tại đoạn đường bê tông thuộc thôn Ngọc Nhuế, xã Tân Phúc, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên; Phí Văn Q đang có hành vi cất giấu trái phép 03 gói ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng 0,175 gam mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Như vậy, VKSND huyện Ân Thi truy tố bị cáo Phí Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tạo điều kiện cho tệ nạn ma tuý phát triển, làm phương hại đến đạo đức, sức khoẻ và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Đặc biệt việc tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm khác khiến cho quần chúng nhân dân rất bất bình.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét đến tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Ngoài ra, bị cáo còn có ông nội là Phí Văn P được tặng kỉ niệm chương thanh niên xung phong, bác ruột là Phí Văn H là liệt sĩ được tặng bằng tổ quốc ghi công nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét nhân thân của bị cáo thì thấy bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, tuy nhiên bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, phạm tội lần đầu nhưng có tính chất nghiêm trọng. Vì vậy HĐXX xét thấy cần phải có một hình phạt nghiêm khắc, bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời góp phần đấu tranh phòng và chống loại tội phạm này.

Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh kinh tế và thu nhập của bị cáo còn khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng : 0,141 gam Heroine trong niêm phong số 32/MT-PC09 của Phòng kỹ thuật Hình sự công an tỉnh Hưng Yên là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cho tịch thu, tiêu hủy. 03 xi lanh kim tiêm, 03 lọ nước Novocain, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, 01 túi nilon là công cụ để bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội có giá trị sử dụng không cao nên cho tịch thu, tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM, biển số 89H2-1525 và giấy đăng ký xe mang tên Chu Văn Thìn thu giữ của Quyết: Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô này thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Văn Đ. Anh Đ không biết Quyết sử dụng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ân Thi đã trả lại cho anh Đ là có căn cứ. Anh Đ đã nhận lại xe và không có yêu cầu đề nghị gì nên HĐXX không xem xét.

Đối với người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ đã bán ma túy cho Quyết, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay chưa làm rõ được nên không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Phí Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo Phí Văn Q 01 năm 06 tháng tù, thời gian tính từ ngày 18/12/2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 0,141 gam Heroine trong niêm phong số 32/MT-PC09 và 03 xi lanh kim tiêm, 03 lọ nước Novocain, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, 01 túi nilon (có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/02/2020).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc hội năm 2016.

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ