- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Khoa Thị Kim P với ông Lâm Thành Q.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2020/HNGĐ-ST Ngày 17/7/2020 V/v “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giang Phước Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Út.
2. Bà Lâm Lệ Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Như Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thanh Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 187/2019/TLST-HNGĐ ngày 23/12/2019 về việc “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Khoa Thị Kim P, năm sinh 1980. (có mặt)
Địa chỉ: Tổ S, ấp H, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Ông Lâm Thành Q, sinh năm 1980. (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ S, ấp H, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 12 năm 2019 và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Khoa Thị Kim P trình bày: Bà và ông Lâm Thành Q tự nguyện yêu thương nhau và kết hôn vào năm 2011, có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H (nay là thành phố H), tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 14/11/2011. Trong cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc do ông Q không lo làm ăn mà chỉ lo cờ bạc, ăn chơi, bà có khuyên nhủ nhiều lần nhưng ông Q không thay đổi. Trước đây bà có nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhưng bà rút đơn về do ông Q hứa thay đổi nhưng ông Q vẫn chứng nào tật nấy thường xuyên cờ bạc, không lo làm ăn, bà không thể chung sống với ông Q nữa nên yêu cầu được ly hôn với ông Q.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung tên Lâm Thành Đ, giới tính nam, sinh ngày 21/01/2013. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Lâm Thành Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa thực hiện theo quy định tại Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H: Về quan hệ hôn nhân: áp dụng các Điều 19, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho bà P ly hôn với ông Q. Về con chung: Áp dụng các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, giao con chung cho bà P tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp với nguyện vọng của cháu Đ, ghi nhận việc không yêu cầu cấp dưỡng của bà P. Về phần tài sản và nợ chung: không có nên không yêu cầu xem xét. Án phí: Buộc bà P chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và căn cứ Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đây là vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn. Trong vụ án này bị đơn ông Lâm Thành Q đang cư trú tại ấp H, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố H.
Về sự vắng mặt của đương sự: Trong thời gian thụ lý giải quyết, ông Lâm Thành Q đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án, triệu tập tham gia phiên hợp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ nhưng ông Q đều vắng mặt, ngày 05/6/2020 Tòa án tiến hành lập biên bản phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tài liệu chứng cứ và biên bản hòa giải không được, ghi nhận ý kiến của bà P, bà P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với ông Q. Tòa án đưa vụ án ra xét xử vào ngày 03/7/2020 nhưng bị đơn vắng mặt lần thứ nhất không lý do nên phiên tòa phải hoãn và ấn định xét xử lại vào ngày hôm nay là ngày 17/7/2020 theo quyết định hoãn phiên Tòa số 33/2020/QĐST-HNGĐ ngày 03/7/2020, ông Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên Tòa lần 2 nhưng vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung: Bà Khoa Thị Kim P với ông Lâm Thành Q kết hôn năm 2011, hôn nhân do ông bà tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H (nay là thành phố H), tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 14/11/2011. Như vậy hôn nhân của ông bà là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình thụ lý giải quyết và tại phiên Tòa hôm nay bà P vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện là xin ly hôn, ông Q đã nhận được thông báo thụ lý vụ án nhưng ông không ý kiến. Khi Tòa án triệu tập hòa giải ông Q vắng mặt do đó vụ án không thể tiến hành hòa giải được. Xét thấy hôn nhân của bà P, ông Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng ông bà phát sinh mâu thuẫn từ đầu năm 2016, bà P có lần nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án nhưng qua sự động viên bà P rút đơn khởi kiện để về đoàn tụ với ông Q, cho ông Q cơ hội sửa chữa nhưng ông Q không thay đổi mà còn lấy tiền riêng của bà P đi chơi. Qua xác minh của Tòa án tại địa phương cho thấy bà P, ông Q có đăng ký thường trú và sinh sống tại địa phương, mâu thuẫn gia đình chủ yếu do ông Q không lo làm ăn, chỉ cờ bạc mà không thấy đi làm, hiện nay bà P, ông Q không còn chung sống cùng nhau, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Qua trình bày của nguyên đơn và kết quả thu thập chứng cứ tại địa phương cho thấy hôn nhân của bà P, ông Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nghị cần chấp nhận cho bà P được ly hôn với ông Q.
Về con chung: Ông bà có một con chung tên Lâm Thành Đ, giới tính nam, sinh ngày 21/01/2013, hiện nay con đang sống cùng bà P, khi ly hôn bà P yêu cầu được nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành. Xét thấy hiện nay con chung đang sống cùng bà P và cháu Đ có nguyện vọng được sống cùng bà P, bà P có công việc ổn định, đủ khả năng nuôi con, nên việc bà P tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đ là tạo điều kiện cho cháu Đ phát triển về mọi mặt. Áp dụng khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, nghị cần giao con chung cho bà P nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận ý kiến bà P không yêu cầu ông Q cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà P trình bày không có tài sản chung, không có nợ chung, ông Q thì không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà P khởi kiện nên phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Khoa Thị Kim P với ông Lâm Thành Q.
- Về con chung: Giao cháu Lâm Thành Đ, giới tính nam, sinh ngày 21/01/2013 cho bà Khoa Thị Kim P tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận ý kiến bà P không yêu cầu ông Q phải cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
Bà Khoa Thị Kim P cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Lâm Thành Q trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật
- Tài sản chung và nợ chung: Bà P trình bày không, ông Q không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí: Bà Khoa Thị Kim P phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), đối trừ tiền tạm ứng án phí mà bà P đã nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai tạm ứng án phí số 0004870 ngày 23 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố H, nay bà P không phải nộp thêm.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND tỉnh Kiên Giang - VKSND thành phố H; - Chi cục THADS Tp H; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giang Phước Thành |