vanban.org

Bản án 11/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Nguyễn Thị T đối với Anh Nguyễn Văn T Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Chị Nguyễn Thị T với Anh Nguyễn Văn T Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa Trang-Thành"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 11/2020/HNGĐ-ST
Ngày 21/02/2020
V/v tranh chấp:“ Ly hôn, tranh
chấp nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Trọng Ngoan

2. Ông Lê Thành Thật

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nhựt - Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 654/2019/TLST–HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2019, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 350/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1984

Hộ khẩu thường trú: Xã Q, huyện VT, thành phố CT

Nơi ở hiện nay: Khóm H, phường MT, thành phố X, tỉnh G. (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1978

Hộ khẩu thường trú: Xã Q, huyện VT, thành phố CT

Nơi tạm trú: Khóm H, phường MT, thành phố X, tỉnh G. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, tại phiên tòa nguyên đơn Chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và và Anh Nguyễn Văn T tự quen biết, tìm hiểu và tự nguyện đi đến hôn nhân vào năm 2001, cả hai có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không phù hợp, thường xảy ra bất hòa, Anh Nguyễn Văn T không có nghề nghiệp ổn định thường xuyên rượu chè, không chăm lo cho gia đình và còn thường xuyên dùng vũ lực để đánh chị. Mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã tìm biện pháp hàn gắn tình cảm nhưng không được. Vì mục đích cuộc hôn nhân không đạt nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết:

+ Về quan hệ hôn nhân: Ly hôn với Anh Nguyễn Văn T

+ Về quan hệ con chung: Có 02 con chung Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 18/4/2002 và Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh ngày 17/01/2007. Khi ly hôn chị T yêu cầu nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

+ Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Bị đơn Anh Nguyễn Văn T vắng mặt suốt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa, nguyên đơn Chị Nguyễn Thị T giữ yêu cầu khởi kiện; Bị đơn Anh Nguyễn Văn T được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không tham dự phiên tòa.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn giữa Chị Nguyễn Thị T với Anh Nguyễn Văn T, về quan hệ con chung Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 18/4/2002 và Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh ngày 17/01/2007 hiện con chung đang được chị T nuôi dưỡng ổn định nên chấp nhận yêu cầu của chị T sau khi ly hôn giao con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng và chị T không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.Về quan hệ tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của vị Kiểm sát viên tham gia phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn T mặc dù được tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng anh T vẫn không tham dự phiên tòa nên vụ án được tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị T khởi kiện xin ly hôn với Anh Nguyễn Văn T đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

Về quan hệ hôn nhân: Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và ý kiến tại phiên tòa, nguyên đơn Chị Nguyễn Thị T trình bày hôn nhân giữa chị và Anh Nguyễn Văn T tự quen biết, tìm hiểu năm 2000 và đi đến hôn nhân, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện VT, thành phố CT cấp giấy chứng nhận kết hôn số 76, quyển số 01 ngày 01/7/2002. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không phù hợp, anh T không có nghề nghiệp ổn định thường xuyên uống rượu không chăm lo cho gia đình. Anh T còn thường xuyên bạo hành đối với chị T dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mặc dù vợ chồng đã tìm biện pháp hàn gắn tình cảm nhưng không được.

Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa chị T xác định không còn tình cảm với anh T, giữa vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng khó có thể hàn gắn nên chị T vẫn cương quyết xin ly hôn, còn anh T không có ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị T. Hội đồng xét xử nhận thấy, trong cuộc sống hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện chị T không đồng ý tiếp tục chung sống cùng với anh T, hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế từ đầu năm 2019 cho đến nay, giữa vợ chồng không còn thực hiện các quyền và nghĩa vụ với nhau, cũng như không có giải pháp nhằm hàn gắn, duy trì cuộc hôn nhân. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Nguyễn Thị T với Anh Nguyễn Văn T.

Về quan hệ con chung: Nguyên đơn Chị Nguyễn Thị T trình bày và cung cấp giấy khai sinh thể hiện vợ chồng chung sống với nhau có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 18/4/2002 và Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh ngày 17/01/2007, Hội đồng xét xử nhận thấy cháu Tiến và cháu Như chưa thành niên và đang được chị T chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp, cuộc sống của cháu đã ổn định. Vì vậy, nhằm ổn định cuộc sống của con chung không bị ảnh hưởng tâm sinh lý của việc cha, mẹ ly hôn, chị T yêu cầu tiếp tục được nuôi dưỡng con chung là chính đáng và phù hợp với nguyện vọng của cháu Tiến, cháu Như mong muốn sống cùng với mẹ theo biên bản lấy lời khai của cháu Tiến do Tòa án nhân dân huyện VT, thành phố CT lập ngày 03/6/2019 và Biên bản ghi ý kiến của cháu Như do Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên lập ngày 23/12/2019 nên yêu cầu nuôi dưỡng con chung của chị T là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp thuận.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, anh T không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định, tuy nhiên chị T xác định không yêu cầu anh T cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị T trình bày không có, không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng anh T vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 143; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 186; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 232; điểm b khoản 1 Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Nguyễn Thị T đối với Anh Nguyễn Văn T

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Chị Nguyễn Thị T với Anh Nguyễn Văn T

2. Về nuôi con chung:

2.1. Sau khi ly hôn giao con chung cháu Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 18/4/2002 và cháu Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh ngày 17/01/2007 cho Chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không có yêu cầu

2.3. Chị T phải tạo điều kiện cho anh T trong việc trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Việc cấp dưỡng và nuôi con chung không cố định.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm:

4.1. Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 001596 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh ngày 16/4/2019. Chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4.2. Anh Nguyễn Văn T không phải nộp tiền án phí sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng, Anh Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư ngụ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ