vanban.org

Bản án 11/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đàm Thị Thúy H được ly hôn anh Nguyễn Trường G.

Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 23/12/2008 cho chị Đàm Thị Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đàm Thị Thúy H ly hôn Nguyễn Trường G"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đàm Thị Thúy H được ly hôn anh Nguyễn Trường G.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 11/2020/HNGĐ-ST
Ngày 15 tháng 5 năm 2020
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Viêm Văn Doãn; Ông Nguyễn Quốc Trung.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Việt Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 454/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2019 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đàm Thị Thúy H, sinh năm 1981; (Có mặt)

HKTT: Thôn L, xã Q, huyện T, thành phố Hà Nội;

Nơi cư trú: Số 27, ngõ 26, đường H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh;

Bị đơn: Anh Nguyễn Trường G, sinh năm 1983; (Vắng mặt)

HKTT: Số 27, ngõ 26, đường H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và bản tự khai tại Toà án, nguyên đơn là chị Đàm Thị Thúy H trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Trường G ngày 20 tháng 12 năm 2007 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn, chị về nhà anh G sống. Vợ chồng chung sống hòa thuận đến đầu năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh G thay đổi tính nết. Anh thường xuyên đánh đập, chửi bới, xúc phạm vợ con một cách vô cớ, không có trách nhiệm với gia đình. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn với anh Nguyễn Trường G.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 23/12/2008. Ly hôn chị có nguyện vọng nuôi cháu Bảo A và không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ: Không có

Phía bị đơn là anh Nguyễn Trường G trình bày: Anh và chị Đàm Thị Thúy H kết hôn với nhau ngày 20 tháng 12 năm 2007, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian chung sống anh hay vũ phu và có hành động xúc phạm đến chị H. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 06 tháng nay, vì vậy nên tình cảm vợ chồng đã phai nhạt dần nhưng anh vẫn còn tình cảm với chị H nên anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 23/12/2008. Nếu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn anh đồng ý để chị Đàm Thị Thúy H nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bảo A.

Về tài sản chung: Vợ chồng có 01 căn hộ chung cư tại khu chung cư Royal park. Nếu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn thì anh có nguyện vọng là cho con. Tòa án đã yêu cầu anh cung cấp chứng cứ về địa chỉ cụ thể và các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu của vợ chồng đối với căn hộ chung cư tại khu chung cư Royal park nhưng anh chưa cung cấp được.

Về công nợ: Không có

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những nguyên đơn kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử cho chị Đàm Thị Thúy H được ly hôn anh Nguyễn Trường G.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 23/12/2008 cho chị Đàm Thị Thúy H nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

- Về tài sản, công nợ: Không xem xét

- Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn là anh Nguyễn Trường G vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228 Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung:

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Đàm Thị Thúy H kết hôn với anh Nguyễn Trường G ngày 20 tháng 12 năm 2007 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Như vậy, chị H và anh G đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật được quy định tại các điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống chị H và anh G luôn xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh G không tôn trọng, thường xuyên đánh đập, xúc phạm chị H. Tại phiên tòa chị H vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn anh G, anh G không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được biện pháp gì để hàn gắn quan hệ vợ chồng, trong khi đó bản thân anh cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn và nguyên nhân là do anh. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh G đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần xử cho chị H được ly hôn anh G.

1.2 Về con chung: chị H và anh G có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 23/12/2008.

Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi cháu Nguyễn Bảo A và không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con chung. Anh G cũng trình bầy nếu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn anh đồng ý để chị Đàm Thị Thúy H nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bảo A. Bản thân cháu Bảo A cũng có nguyện vọng được ở với chị H. Vì vậy cần giao cháu Nguyễn Bảo A cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu do vậy không đặt ra xem xét.

1.3 Về tài sản chung: Quá trình Tòa án giải quyết và tại phiên tòa hôm nay chị H trình bầy vợ chồng không có tài sản chung. Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai Anh G trình bầy vợ chồng có 01 căn hộ chung cư tại khu chung cư Royal park. Nếu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn thì anh có nguyện vọng là cho con. Tòa án đã yêu cầu anh cung cấp chứng cứ về địa chỉ cụ thể và các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu của vợ chồng đối với căn hộ chung cư tại khu chung cư Royal park nhưng tại buổi công khai chứng cứ và tại phiên tòa hôm nay anh G chưa cung cấp được. Vì vậy không có căn cứ để xem xét yêu cầu giải quyết chia tài sản của anh G.

1.4 Về công nợ: Vợ chồng không có công nợ nên không đặt ra xem xét.

1.5 Về án phí: Chị Đàm Thị Thúy H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 147, 235, 264, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2006 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đàm Thị Thúy H được ly hôn anh Nguyễn Trường G.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 23/12/2008 cho chị Đàm Thị Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng.

Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu.

Anh Nguyễn Trường G được quyền đi lại thăm nom con chung. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung: Chưa giải quyết.

4. Về công nợ chung: Không có.

5. Về án phí dân sự: Chị Đàm Thị Thúy H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm (Xác nhận chị Đàm Thị Thúy H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai số AA/2018/0002197 ngày 23/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh). Chị H đã nộp đủ tiền án phí.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Trung

Viêm Văn Doãn

Hoàng Thị Ngọc Anh

Cỡ chữ