- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Cho chị Hồ Thị M (M1) được ly hôn anh Đặng Văn H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2020/HNGĐ-ST Ngày 02-7-2020 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Bích Ngọc và ông Dương Văn Vườn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Yến, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thùy Linh, Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2020/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2020 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hồ Thị M (M1), sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
Bị đơn: Anh Đặng Văn H, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Hồ Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị với anh Đặng Văn H kết hôn ngày 17/7/2000, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi kết hôn anh chị sống chung cùng gia đình anh H, năm 2003 thì anh chị ra ở riêng. Quá trình chung sống, ban đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Đến tháng 02/2019 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, anh H hay ghen tuông vô cớ, mắng chửi và đánh đập chị, mâu thuẫn của anh chị được gia đình và chính quyền địa phương nhiều lần hòa giải. Từ tháng 02/2020 anh chị sống ly thân, không ai quan tâm hay có trách nhiệm gì đến nhau. Chị xác định tình cảm không còn, không thể hàn gắn được, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.
Về quan hệ giao nuôi con chung: Chị và anh H có 04 con chung là Đặng Thị Ph, sinh ngày 03/5/2001; Đặng Như Q, sinh ngày 18/11/2003; Đặng Thị Thúy V, sinh ngày 13/6/2008 và cháu Đặng Phạm Chí Th, sinh ngày 16/10/2013. Hiện cháu V ở cùng chị, cháu Q và cháu Th ở cùng anh H. Ly hôn, do cháu Ph đã thành niên nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết, chị đề nghị được nuôi cháu V, anh H nuôi cháu Q và cháu Th, chị và anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản: Không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Đặng Văn H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh thừa nhận như chị M trình bày về quá trình chung sống, thời gian vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Theo anh nguyên dẫn đến mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, chị M có quan hệ ngoại tình, anh có mắng chị một vài lần và không cho chị M làm chủ kinh tế nên chị M sống lạnh nhạt với anh. Anh xác định tình cảm vẫn còn, anh không đồng ý ly hôn chị M.
Về quan hệ giao nuôi con chung: Anh thừa nhận như trình bày của chị M. Ly hôn, do cháu Ph đã thành niên nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết, anh đề nghị được nuôi cả 03 con chung là cháu Q, cháu V và cháu Th, không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản: Không yêu cầu giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị M, cho chị M được ly hôn anh Đặng Văn H; Giao cho chị M trực tiếp nuôi cháu V, anh H trực tiếp nuôi cháu Q và cháu Th, chị M và anh H không ai phải cấp dưỡng nuôi con; Chị M phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Chị Hồ Thị M có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đặng Văn H; anh H có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy, xác định đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị M và anh Đặng Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến tháng 02/2019 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, xô sát, mâu thuẫn của anh chị đã được gia đình và chính quyền địa phương nhiều lần hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện. Quá trình giải quyết, Tòa án tiến hành hòa giải nhưng anh chị không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm, tại phiên tòa anh H vẫn mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng chị M kiên quyết xin ly hôn. Điều đó, chứng tỏ hôn nhân của chị M và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị M, cho chị M ly hôn anh H là phù hợp.
. Về quan hệ giao nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án anh H đề nghị được nuôi cả ba con chung, không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con nhưng tại phiên tòa anh H thống nhất quan điểm của chị M, đề nghị Tòa án giải quyết giao cho chị M nuôi cháu V, anh H nuôi cháu Q và cháu Th, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, thỏa thuận của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với nguyện vọng của các cháu nên cần được chấp nhận.
. Về quan hệ tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
. Về án phí: Chị Hồ Thị M phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử:
1. Cho chị Hồ Thị M (M1) được ly hôn anh Đặng Văn H.
2. Giao cho chị Hồ Thị M (M1) tiếp tục nuôi cháu Đặng Thị Thúy V, sinh ngày 13/6/2008; anh Đặng Văn H tiếp tục nuôi cháu Đặng Như Q, sinh ngày 18/11/2003 và cháu Đặng Phạm Chí Th, sinh ngày 16/10/2013. Chị M và anh H không phải cấp dưỡng nuôi con; không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con .
Các đương sự có quyền yêu cầu về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và yêu cầu về cấp dưỡng.
3. Chị Hồ Thị M (M1) phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu số: 0008031 ngày 30 tháng 3 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Đảo.
4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tam Đảo; - Chi cục THADS huyện Tam Đảo; - UBNDTT Đại Đình, huyện Tam Đảo; - Các đương sự; - Lưu HSVA, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Thu |