vanban.org

Bản án 11/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Võ Thị Tư được ly hôn với anh Nguyễn Hùng Cường.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Như Hùynh, sinh ngày 13/4/2005 cho chị Võ Thị Tư trực tiếp nuôi sau khi ly hôn, anh Cường không cấp dưỡng nuôi con. Chị Tư và các thành viên trong gia đình chị Tư không được cản trở anh Cường đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp vụ án hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Võ Thị Tư được ly hôn với anh Nguyễn Hùng Cường.
  • Căn cứ chính? Điều 228 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 16 - 4 - 2020
V/v tranh chấp ly hôn,
nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Anh Việt

2. Ông Đỗ Minh Tân

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Nguyễn Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Trần Cao Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 11/2020/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2020/QĐXX-ST ngày 18 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Võ Thị Tư, sinh năm 1980;

Địa chỉ: Ấp An Hưng, xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn: Anh Nguyễn Hùng Cường, sinh năm 1979;

Địa chỉ: Ấp An Lợi, xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Võ Thị Tư trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Tư và anh Cường sau khi quen biết, tìm hiểu khoảng 01 năm rồi tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được UBND xã An Khánh cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/12/2002.

Sau khi về chung sống thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến khoảng tháng 3 năm 2015 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Cường có quan hệ với người phụ nữ khác, nhiều lần đánh, chửi chị làm vợ chồng cải nhau, tình cảm trở nên phai nhạt nên chị Tư về bên cha mẹ ruột cất nhà ở cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, anh Cường thỉnh thoảng có liên lạc nhưng do không thể tiếp tục chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị Võ Thị Tư yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Hùng Cường.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Anh Thư, sinh ngày 09/6/2001 và Nguyễn Thị Như Hùynh, sinh ngày 13/4/2005, hiện các con sống chung với chị Tư. Khi ly hôn chị Tư yêu cầu được nuôi con chung là Nguyễn Thị Như Hùynh, không yêu cầu anh Cường cấp dưỡng nuôi con. Còn Nguyễn Thị Anh Thư đã trưởng thành và tự nuôi sống bản thân được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Hùng Cường trình bày:

Anh Cường thống nhất theo lời trình bày của chị Tư về thời gian quen biết, kết hôn và cả hai có đăng ký kết hôn, được UBND xã An Khánh cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/12/2002.

Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2017 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Cường thường xuyên uống rượu nên dẫn đến vợ chồng luôn cải nhau, làm bất đồng quan điểm về mọi mặt, tình cảm ngày càng phai nhạt. Đến tháng 3 năm 2017 chị Tư về nhà cha mẹ ruột ở nên vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay.

Nay anh Cường cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hàn gắn được nên anh Cường cũng đồng ý ly hôn với chị Võ Thị Tư.

- Về con chung: Anh Cường thống nhất với chị Tư, trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Anh Thư, sinh ngày 09/6/2001 và Nguyễn Thị Như Hùynh, sinh ngày 13/4/2005, hiện các con sống chung với chị Tư. Khi ly hôn anh Cường đồng ý giao con chung là Nguyễn Thị Như Hùynh cho chị Tư trực tiếp nuôi, anh Cường không cấp dưỡng nuôi con. Còn Nguyễn Thị Anh Thư đã trưởng thành và tự nuôi sống bản thân được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm về tuân thủ pháp luật tố tụng và nội dung giải quyết vụ án:

- Về tuân thủ pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.

- Về hướng giải quyết vụ án:

Xét hôn nhân giữa chị Tư và anh Cường có đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Cường thường xuyên uống rượu, không quan tâm chăm sóc vợ con. Chị Tư và anh Cường sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Nay chị Tư không còn tình cảm với anh Cường và anh Cường cũng đồng ý ly hôn với chị Tư nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Tư được ly hôn với anh Nguyễn Hùng Cường.

Về con chung: Chị Tư và anh Cường đều thống nhất có 02 con chung là Nguyễn Thị Anh Thư, sinh ngày 09/6/2001 và Nguyễn Thị Như Hùynh, sinh ngày 13/4/2005, hiện các con sống chung với chị Tư. Khi ly hôn chị Tư yêu cầu được nuôi con Nguyễn Thị Như Hùynh và không yêu cầu anh Cường cấp dưỡng nuôi con, còn anh Cường cũng đồng ý giao con chung cho chị Tư nuôi và anh Cường không cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Như Hùynh cho chị Tư tiếp tục nuôi dưỡng, anh Cường không cấp dưỡng nuôi con.

Đối với Nguyễn Thị Anh Thư, sinh ngày 09/6/2001 đã trưởng thành, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Trong đơn khởi kiện chị Tư yêu cầu được ly hôn với Nguyễn Hùng Cường nên xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Hiện anh Cường đang cư trú tại ấp An Lợi, xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp nên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành có thẩm quyền giải quyết.

Về tố tụng: Chị Võ Thị Tư và anh Nguyễn Hùng Cường đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Xét hôn nhân giữa chị Tư và anh Cường trên cơ sở tìm hiểu, được gia đình hai bên chấp thuận nên tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được ủy ban nhân dân xã An Khánh cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/12/2002 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Qua lời khai của các đương sự xác định: Chị Tư và anh Cường kết hôn vào năm 2002. Sau thời gian chung sống, đến năm 2015 vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Cường thường xuyên uống rượu làm cho vợ chồng luôn cải nhau, bất đồng về mọi mặt, khiến đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc, tình cảm phai nhạt, dù cố gắng vun đắp tình cảm nhưng không kết quả nên chị Tư về nhà mẹ ruột ở từ đó cho đến nay. Vì vậy, chị Tư yêu cầu ly hôn với anh Cường và phía anh Cường cũng đồng ý ly hôn với chị Tư.

Qua đó Hội đồng xét xử xét thấy, đời sống vợ chồng giữa chị Tư và anh Cường không được hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình là điều kiện để cho ly hôn. Do đó, xét việc chị Võ Thị Tư yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Hùng Cường là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Các đương sự xác định, trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Tư và anh Cường có 02 con chung tên Nguyễn Thị Anh Thư, sinh ngày 09/6/2001 và Nguyễn Thị Như Hùynh, sinh ngày 13/4/2005, hiện các con sống chung với chị Tư. Khi ly hôn chị Tư yêu cầu được nuôi con Nguyễn Thị Như Hùynh, không yêu cầu anh Cường cấp dưỡng nuôi con. Anh Cường cũng đồng ý giao cháu Như Hùynh cho chị Tư nuôi và không cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là sự tự nguyện của các đương sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Còn Nguyễn Thị Anh Thư đã trưởng thành, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Võ Thị Tư chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, 81 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 228, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị định 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Cho chị Võ Thị Tư được ly hôn với anh Nguyễn Hùng Cường.

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Như Hùynh, sinh ngày 13/4/2005 cho chị Võ Thị Tư trực tiếp nuôi sau khi ly hôn, anh Cường không cấp dưỡng nuôi con.

Chị Tư và các thành viên trong gia đình chị Tư không được cản trở anh Cường đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Võ Thị Tư phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007322 ngày 10/01/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ