- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Hôn nhân gia đình về ly hôn giữa nguyên đơn Trần Thị H và bị đơn Võ Tấn H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Trần Thị H được ly hôn với anh Võ Tấn H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2020/HNGĐ-ST Ngày: 12/3/2020 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoài Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Bội Hoàn
2/ Ông Thái Cao Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trƣơng Thị Dung – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 163/2019/TLST-HNGĐ ngày 11/9/2019 về việc: “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2020/QĐST-HNGĐ ngày 05/02/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2020/QĐST-HNGĐ ngày 24/02/2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị H - Sinh năm: 1994
Địa chỉ: thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt tại phiên toà)
2. Bị đơn: Anh Võ Tấn H - Sinh năm: 1985
Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Trong đơn khởi kiện đề ngày 06/9/2019, bản tự khai ngày 03/10/2019 và tại phiên tòa nguyên đơn Trần Thị H trình bày:
Về yêu cầu ly hôn: Chị Trần Thị H và anh Võ Tấn H tự nguyện kết hôn với nhau năm 2017 và được UBND xã C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 26 ngày 12/12/2017.
Quá trình chung sống: Sau khi kết hôn chị H và anh H sống chung với gia đình chồng tại xã C, huyện C. Trong thời gian chung sống thì vợ chồng chị H đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con, thường xuyên nhậu nhẹt rồi gây sự chửi bới, dùng lời lẽ xúc phạm và đánh đập chị H. Chị H đã cố gắng chịu đựng và tìm cách khuyên giải nhưng anh H vẫn không thay đổi. Đến tháng 4/2019, chị H phải đưa con về sinh sống với cha mẹ ruột tại tỉnh Đắk Lắk. Cũng từ thời gian đó chị H và anh H đã sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai. Nay chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã quá trầm trọng, vợ chồng không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống cùng nhau được nên chị H yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Võ Tấn H.
Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Chị H và anh H có 01 con chung là cháu Võ Trần Minh N sinh ngày 18/8/2018. Hiện nay, cháu Nt đang ở với chị H, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến như sau:
- Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn Trần Thị H đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn Võ Tấn H không chấp hành các quy định của pháp luật về tố tụng, đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.
- Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp lý nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn cũng như về việc nuôi con, cấp dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ngày 09/9/2019, chị Trần Thị H có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Võ Tấn H, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện C đã thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bị đơn Võ Tấn H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về yêu cầu ly hôn: Chị Trần Thị H và anh Võ Tấn H tự nguyện kết hôn với nhau năm 2017 và được UBND xã C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 26 ngày 12/12/2017, đây là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống giữa chị H và anh H đã xảy ra mâu thuẫn với nhau. Nguyên nhân là do anh H không quan tâm đến vợ con, không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu bia rồi gây sự chửi mắng, dùng lời lẽ xúc phạm và đánh chị H. Chị H và anh H đã sống ly thân nhau từ tháng 4/2019 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Tòa án đã triệu tập nhiều lần để hòa giải nhưng anh H vẫn cố tình vắng mặt, cho thấy thái độ bất cần, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng của anh H. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị H là có căn cứ.
[3] Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Chị H Và anh H có 01 con chung là cháu Võ Trần Minh N sinh ngày 18/8/2018. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay cháu N dưới 36 tháng tuổi và đang ở cùng với chị H. Vì vậy, để đảm bảo cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc và phát triển thể chất của cháu N nên chấp nhận yêu cầu của chị H, giao cháu N cho chị H nuôi dưỡng, giáo dục.
Chị H không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên không xét.
[4] Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Chị Trần Thị H không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[5] Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Trần Thị H được ly hôn với anh Võ Tấn H.
2. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con:
- Giao cháu Võ Trần Minh N sinh ngày 18/8/2018 cho chị Trần Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị H không yêu cầu nên không xét.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
3. Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Chị Trần Thị H không yêu cầu giải quyết nên không xét.
4. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2018/0007828 ngày 10/9/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C; chị Trần Thị H đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
5. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
6. Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện C; - THADS huyện C; - UBND xã C; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Hoài Tâm |