vanban.org

Bản án 11/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho bà Lý Thị Thu T ly hôn với ông Trần Văn N.

Về nuôi con chung: Không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Thị Thu T - Trần Văn N"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho bà Lý Thị Thu T ly hôn với ông Trần Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẤT ĐỎ
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2020/HNGĐ-ST
Ngày 8- 6- 2020
V/v: Tranh chấp yêu cầu ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thương

Bà Nguyễn Thị Ngọc Lệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tùng Lâm- Kiểm sát viên.

Ngày 8 tháng 6 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 298/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp yêu cầu ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2020/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lý Thị Thu T - sinh năm: 1976 Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (Có mặt)

Bị đơn: Ông Trần Văn N - sinh năm: 1973 Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 10 năm 2019 và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là bà Lý Thị Thu T trình bày:

Nguyên vào năm 1993, bà Lý Thị Thu T và ông Trần Văn N tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lộc An, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu theo giấy chứng nhận kết hôn số 29 ngày 16-7-2009.

Vợ chồng bà T chung sống hạnh phúc đến năm 2007 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông N thay đổi tính cách, thường xuyên đi uống rượu, sau đó về kiếm chuyện gây gỗ và đánh đập bà T nhiều lần. Năm 2015, bà T không thể tiếp tục chung sống nên đã làm đơn gửi Tòa yêu cầu ly hôn. Sau đó, Tòa án tổ chức hòa giải, ông N cam kết sửa đổi nên bà T rút đơn để quay về đoàn tụ. Năm 2016, ông N tiếp tục đánh đập bà T và UBND xã Lộc An đưa ông N đi cải tạo 18 tháng. Khi trở về hòa nhập cộng đồng được một thời gian thì ông N lại nghiện rượu, lại xúc phạm và đánh đập bà T. Vì sợ nguy hiểm đến tính mạng nên tháng 10 năm 2019, bà T bỏ nhà đi ra ngoài thuê nhà trọ sinh sống. Nay, bà T xác định vợ chồng mâu thuẫn đã quá trầm trọng, không thể quay về chung sống nên yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng bà T có 03 con chung là Trần Chí H - Sinh năm 1994, Trần Thị Xuân T, sinh năm 1995 và Trần Bình T, sinh năm 1997. Nay, các con đã trưởng thành, có khả năng tự lao động nên không có yêu cầu gì.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung cũng như nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Trần Văn N tại bản khai, biên bản hòa giải trình bày:

Ông N khai thống nhất với lời trình bày của bà T ở trên về thời gian, điều kiện kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung.

Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn thì theo ông N là do ông thường đi uống rượu về sau đó có lời lẽ thiếu tế nhị xúc phạm danh dự, đánh bà T đồng thời cũng có đam mê cờ bạc. Từ đó, vợ chồng sống không hạnh phúc, bà T bỏ ra ngoài thuê nhà trọ ở. Nay, ông đã nhìn nhận ra sai sót của mình, hứa sửa đổi, yêu cầu đoàn tụ, không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Ông N xác định các con chung đã trưởng thành như bà T trình bày và không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông N xác định vợ chồng không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa là vi phạm Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Trần Văn N hiện nay có nơi sinh sống, làm việc tại huyện Đất Đỏ nên căn cứ theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.

Bị đơn được triệu tập lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông N.

Về nội dung:

Về yêu cầu ly hôn:

Xét quan hệ hôn nhân giữa bà Lý Thị Thu T và ông Trần Văn N trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc An, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Do vậy, theo quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đủ cơ sở xác định là hôn nhân hợp pháp.

Xét, quá trình chung sống, bà T và ông N đều xác định vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn trong một thời gian dài do ông N uống rượu về có lời lẽ thiếu tế nhị xúc phạm danh dự nhân phẩm, đánh đập bà T nhiều lần và đam mê cờ bạc. Năm 2015, bà T nộp đơn đến Tòa xin ly hôn, Tòa án đã tạo điều kiện để ông N sửa đổi bản thân, quay về đoàn tụ. Tuy nhiên, ông N về vẫn không thay đổi, mặc dù địa phương cũng đã tạo điều kiện đưa ông N đi cải tạo nhằm giáo dục trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Từ những phân tích ở trên thấy rằng mâu thuẫn giữa bà T và ông N đã quá trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bà T, cho bà T ly hôn với ông N.

Về con chung: Bà Lý Thị Thu T và ông Trần Văn N xác định có với nhau 03 con chung là Trần Chí H - Sinh năm 1994, Trần Thị Xuân T, sinh năm 1995 và Trần Bình T, sinh năm 1997. Xét, các con chung đều trên 18 tuổi, không ai có yêu cầu gì nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T và ông N đều không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà Lý Thị Thu T phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Trần Văn N không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường Vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho bà Lý Thị Thu T ly hôn với ông Trần Văn N.

2. Về nuôi con chung: Không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí:

- Bà Lý Thị Thu T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số TU/2019/0000935 ngày 27 tháng 11 năm 2019 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ. Bà T đã nộp đủ tiền án phí.

- Ông Trần Văn N không phải chịu tiền án phí.

5. Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ