- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Long - Trường"
- Tòa quyết gì? dân sự; Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ chính? Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 357 Bộ luật Dân sự; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2020/DS-ST Ngày 19 tháng 6 năm 2020 V/v: "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Cương.
2. Bà Vũ Thị Thu Ngát.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Thị Thơ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên
Thế, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham
gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 19-6-2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế mở phiên toà xét
xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 139/2019/TLST-DS, ngày 09 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2020/QĐXXST-DS ngày 16-3-2020 và quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2020/QĐST-DS ngày 22-5-2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đinh Triệu L, sinh năm 1970 (có mặt).
Địa chỉ: Phố TH, thị trấn NN, huyện TY, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Anh Đặng Văn T, sinh năm 1976 (vắng mặt).
Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1976 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Bản GB, xã ĐT, huyện YT, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1976.
Chị L ủy quyền cho anh Đinh Triệu L, sinh năm 1970 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Phố TH, thị trấn NN, huyện TY, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, anh Đinh Triệu L
trình bày:
Anh có mối quan hệ quen biết với anh Đặng Văn T. Ngày 22-8-2017, anh T,
chị N có xuống nhà anh vay số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Khi vay các bên có viết giấy biên nhận và thỏa thuận miệng lãi suất theo lãi suất của N hàng, thời hạn vay là 01 tháng kể từ ngày vay. Đến hạn trả nợ, anh đến đòi nhiều lần thì anh T trình bày hoàn cảnh khó khăn nên xin trả dần. Ngày 20-01-2019 anh T lại hỏi vay anh số tiền 148.000.000 đồng, anh T nói để đảo sổ N hàng rồi sẽ trả anh cả hai khoản vay trên. Tin tưởng anh T nên anh đã cho anh T vay 148.000.000 đồng, thời hạn là 01 tháng và không lấy lãi. Tuy nhiên, đến hạn thanh toán thì anh T không trả cho anh cả hai khoản vay trên. Nay anh khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh T phải trả cho vợ chồng anh số tiền gốc là 248.00.000 đồng (Hai trăm bốn mươi tám triệu đồng) và lãi suất của khoản vay 100.000.000 đồng với mức 0,83%/tháng tính từ ngày vay cho đến khi tất toán khoản nợ. Về lãi tại giai đoạn thi hành án anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, anh L thay đổi lời khai, đối với khoản vay 148.000.000 đồng thì
anh chỉ yêu cầu một mình anh T có trách nhiệm trả nợ cho vợ chồng anh.
* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai chị Hoàng Thị N trình bày: Chị và
anh T có được ký giấy vay của anh L số tiền là 100.000.000 đồng vào ngày 22-8-2017. Khi vay thì hai bên có thỏa thuận miệng việc trả lãi và thời hạn vay là 01 tháng. Nay chị đồng ý trả anh L số tiền gốc là 100.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật tính từ ngày vay cho đến khi tất toán khoản nợ. Đối với khoản vay 148.000.000 đồng ngày 20-01-2019 thì chị không được vay và sử dụng số tiền trên, chị có nghe anh T nói lại đó là khoản tiền lãi mà anh L buộc anh T phải ký nên chị không đồng ý trả khoản nợ này.
Anh Đặng Văn T đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không
có lời khai trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế phát biểu quan điểm giải
quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Thư ký từ khi
thụ lý đến khi xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà hôm nay, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Đặng Văn T, chị Hoàng Thị N chưa chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh
Đinh Triệu L:
+ Buộc anh Đặng Văn T và chị Hoàng Thị N phải trả cho anh Đinh Triệu L,
chị Phạm Thị L số tiền gốc là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), tiền lãi 0,83%/tháng tính từ ngày 22-8-2017 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ.
+ Buộc anh Đặng Văn T phải có trách nhiệm trả cho anh Đinh Triệu L, chị
Phạm Thị L số tiền gốc là 148.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi tám triệu đồng). Anh L không yêu cầu tính lãi chậm trả.
Về án phí: Anh L không phải chịu án phí. Anh T, chị N được miễn tiền án
phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh L khởi kiện anh T, chị N yêu cầu trả
tiền của hợp đồng vay ngày 22-8-2017 và ngày 20-01-2019 nên đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Anh T, chị N cùng có địa chỉ cư trú tại huyện Yên Thế nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
Anh Đặng Văn T, chị Hoàng Thị N vắng mặt lần thứ hai không có lí do nên
Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T và chị N.
Về áp dụng pháp luật: Sự kiện pháp lý xảy ra ngày 22-8- 2017 và ngày 20-
01-2019 nên cần áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự 2015 để giải quyết theo quy định tại Điều 689 của Bộ luật dân sự 2015.
. Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Triệu L về việc yêu cầu anh T, chị N trả
nợ, Hội đồng xét xử nhận định:
- Đối với khoản vay ngày 22-8-2017 anh L yêu cầu anh T, chị N trả số tiền
gốc là 100.000.000 đồng và tiền lãi 0,83%/tháng cho đến khi trả nợ xong: Xét thấy khoản vay này có giấy biên nhận, anh L và chị N cùng thừa nhận khi vay hai bên có thỏa thuận miệng về lãi suất, thời hạn trả lãi tính từ ngày vay, chị N cũng đồng ý với yêu cầu của anh L, mức lãi anh L yêu cầu là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh L.
- Đối với khoản vay 148.000.000 đồng ngày 20-01-2019, có giấy biên nhận
và có chữ ký của anh Đặng Văn T, tại phiên tòa anh L chỉ yêu cầu một mình anh T trả khoản nợ này, xét thấy đây là sự tự nguyện của đương sự, không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên cần được chấp nhận. Về ý kiến của chị Hoàng Thị N là có nghe anh T nói lại đó là khoản tiền lãi nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh, anh L không thừa nhận nội dung này nên không có căn cứ để xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Triệu L được chấp nhận nên
không phải chịu tiền án phí. Anh Đặng Văn T, chị Hoàng Thị N thuộc đối tượng người dân tộc thiểu số sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn tiền án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35; Khoản 1
Điều 39; Khoản 2 Điều 228, Điều 271; Điều 273; Điều 147, Điều 161 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 463; Điều 466; Điều 470; Điều 468; Điều 357 của Bộ luật
dân sự; Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-
UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử:
1. Về nghĩa vụ trả nợ:
- Buộc anh Đặng Văn T và chị Hoàng Thị N phải trả cho anh Đinh Triệu L
và chị Phạm Thị L số tiền gốc là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) và tiền lãi tính từ ngày 22-8-2017 đến ngày 19-6-2020 là 28.137.000 đồng, tổng cộng là 128.137.000 đồng (Một trăm hai mươi tám triệu một trăm ba mươi bẩy nghìn đồng).
- Buộc anh Đặng Văn T phải trả cho anh Đinh Triệu L và chị Phạm Thị L số
tiền gốc là 148.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi tám triệu đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
2. Về tiền án phí: Anh Đinh Triệu L không phải chịu tiền án phí dân sự sơ
thẩm. Hoàn trả anh Đinh Triệu L số tiền 7.000.000 đồng (Bẩy triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số AA/2014/0004593 ngày 09-12-2019 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thế thu. Anh Đặng Văn T và chị Hoàng Thị N thuộc đối tượng người dân tộc thiểu số sống tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
T hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tinh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Yên Thế; - THA huyện Yên Thế; - Các đương sự; - Lưu HS. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Trang |