vanban.org

Bản án 11/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn Hữu đối với chị Lê Thị

Buộc chị Lê Thị Hằng phải có trách nhiệm thanh toán trả anh Trần Văn Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, anh Hữu có đơn yêu cầu thi hành Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hoàng Thị Mỵ, Dương Nghĩa Long"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn Hữu đối với chị Lê Thị
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 11/2020/DS-ST
Ngày 23 - 6 - 2020
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Sái Đức Trung

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đào.

Bà Nguyễn Thị Minh.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Giáp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

P, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện VKSND huyện P, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Không

tham gia.

Ngày 23 tháng 6 năm 2020, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện P,

tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý theo thủ tục thông thường số: 01/2020/TLST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2020/QĐXXST - DS, ngày 01 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị M, sinh năm 1961

Ông Dương Nghĩa L, sinh năm 1959

Địa chỉ: Xóm K, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên;

(Đều có mặt)

Bị đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1970 (Có mặt)

Địa chỉ: Xóm K, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên;

(Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trong quá

trình giải quyết các đương sự trình bày như sau:

- Nguyên đơn bà M trình bày: Tôi có quen biết, ở cùng xóm với bà H, bà H

có chơi phường với tôi, tôi có thu xếp cho bà H lấy phường trước theo yêu cầu của bà H, sau đó bà H không nộp được một số suất phường. Sau đó tôi gọi điện cho bà H bảo nộp phường, nhưng bà H không có tiền nên bảo tôi nộp hộ, sau đó hết phường bà H vẫn không trả được có vay tiền tôi để trả phường. Tôi đã cho bà H vay số tiền là 86.000.000đồng, ngày 21/11/2018, có hẹn ngày trả, bà H có viết giấy vay tiền tôi và có hẹn trả ngày 15/4/2019, nhưng đến hạn không trả được. Nay tôi yêu cầu bà H trả tôi số tiền 86.000.000đồng trên, tôi không yêu cầu trả lãi.

- Nguyên đơn ông L trình bày: Tôi có cho bà H vay tổng số

170.000.000đồng, cụ thể: (ngày 18/02/2017 (âm lịch) 50.000.000đồng; ngày 29/8/2017 (âm lịch) 30.000.000đồng; ngày 20/01/2019 (âm lịch) là 90.000.000 đồng). Khi vay bà H có viết giấy vay tiền, do bà H tự viết và ký nhận, tôi đã đòi nhiều lần nhưng bà H không trả. Nay tôi yêu cầu bà H trả tôi tiền nợ gốc là: 170.000.000đồng, tôi không yêu cầu bà H trả lãi.

- Bị đơn bà H trình bày: Đối với mã 86.000.000 đồng của bà M là tiền

phường, chưa đến kỳ đóng phường, bà M bảo đóng giúp cho tôi, sau đó bà M yêu cầu tôi viết giấy nợ vay. Đối với các khoản của ông L cũng là tiền phường, chưa đến kỳ đóng phường, ông L bảo đóng giúp cho tôi, sau đó ông L yêu cầu tôi viết giấy nợ vay. Toàn bộ đều là tiền phường, chứ không phải tiền vay mang về nhà sử dụng.

Quá trình giải quyết Toà án đã tiến hành hoà giải, xong các bên vẫn giữ

nguyên quan điểm không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên phải đưa vụ án ra xét xử ngày hôm nay.

Tại phiên tòa nguyên đơn bà M vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu bà H trả

số nợ gốc là 86.000.000đồng và yêu cầu trả lãi suất 10%/năm kể từ ngày 21/11/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm 23/6/2020. Vì số tiền cho bà H vay, bà đã vay Ngân hàng và phải trả lãi suất hàng tháng nên bà yêu cầu bà H phải trả lãi theo pháp luật.

Tại phiên tòa nguyên đơn ông L vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu bà H trả

tiền nợ gốc là: 170.000.000đồng và yêu cầu trả lãi suất 10%/năm đến ngày xét xử sơ thẩm 23/6/2020, cụ thể như sau: 50.000.000đ, kể từ ngày 18/02/2017 (âm lịch) tức là ngày 15/3/2017; 30.000.000đ, kể từ ngày 29/8/2017 (âm lịch) tức là ngày 18/10/2017; 90.000.000đ, kể từ ngày 20/01/2019 (âm lịch) tức là ngày 24/02/2019. Vì số tiền cho bà H vay, ông đã vay Ngân hàng và phải trả lãi suất hàng tháng nên ông yêu cầu bà H phải trả lãi theo pháp luật.

Tại phiên tòa, bị đơn bà H thừa nhận có ký giấy vay tiền của bà M và ông L

là: 256.000.000đồng để đóng tiền phường, số tiền này bà đã nộp phường cho chính bà M và ông L. Do vậy, tôi không nợ gì và không đồng ý trả số tiền nợ gốc và lãi suất theo yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn bà H địa

chỉ: xóm K, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà M, ông L khởi kiện

yêu cầu bị đơn bà H trả lại số tiền vay 256.000.000đồng, theo giấy vay tiền đã do bị đơn ký nhận. Đến nay bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ dẫn đến phát sinh tranh chấp. Đây là vụ án về tranh chấp hợp đồng dân sự, theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã giao các văn bản tố

tụng cho các đương sự, tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành, các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án:

- Xét thấy, quá trình thu thập tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa đương sự đã

thừa nhận có giao dịch và ký vào giấy vay tiền, giấy vay tiền ngày 21/11/2018, bà H thừa nhận có vay của bà M 86.000.000đồng; các giấy vay tiền ngày 18/02/2017 (âm lịch) 50.000.000đồng; ngày 29/8/2017 (âm lịch) 30.000.000đồng; ngày 20/01/2019 (âm lịch) là 90.000.000 đồng bà H đều thừa nhận có ký vay tiền, mục đích vay để đóng tiền phường cho bà M và ông L, bà không đồng ý trả nợ cho bà M và ông L.

- Xét yêu cầu của nguyên đơn: Bà M và ông L đã cho bà H vay tiền

256.000.000đồng, bà H đã tự viết và ký vào giấy vay tiền. Nguyên đơn đã thực hiện nghĩa vụ của bên cho vay và đã giao tiền tuy nhiên đến hạn trả nợ bà H không thực hiện nghĩa vụ của bên vay là vi phạm. Nay bà M và ông L yêu cầu bà H phải trả số tiền nợ gốc 256.000.000đồng và lãi suất 10%/năm, kể từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm 23/6/2020. Yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, nên cần được chấp nhận.

- Xét yêu cầu của bị đơn: Bà H đã thừa nhận có vay và ký nhận vào giấy vay

tiền của bà M là 86.000.000đồng và ông L là 170.000.000đồng. Nay nguyên đơn yêu cầu phải trả tiền nợ gốc và lãi suất, bà H không đồng ý, lý do số tiền vay để nộp phường cho bà M và ông Lg. Bà không vay tiền của bà M và ông L mang về nhà sử dụng nên bà không đồng ý trả, nhưng bà không có tài liệu, chứng cứ chứng minh, nên không có căn cứ để chấp nhận.

- Về lãi suất: Bà M yêu cầu bà H phải trả lãi suất 10%/năm (0,83%/tháng)

đối với nợ gốc 86.000.000đồng, kể từ ngày 21/11/2018 đến ngày xét xử 23/6/2020 là 19 tháng 02 ngày (86.000.000đ x 0,83%/tháng x 19 tháng 02 ngày) = 13.609.700đ (Mười ba triệu sáu trăm linh nghìn bảy trăm đồng).

- Về lãi suất: Ông L yêu cầu bà H phải trả lãi suất 10%/năm (0,83%/tháng)

đối với nợ gốc 170.000.000đồng, kể từ ngày vay đến ngày xét xử 23/6/2020, cụ thể:

+ Khoản vay 50.000.000đ, kể từ ngày 18/02/2017 (âm lịch) tức là ngày

15/3/2017 là 39 tháng 08 ngày (50.000.000đ x 0,83%/tháng x 39 tháng 08 ngày) = 16.295.600đ (Mười sáu triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn sáu trăm đồng);

+ Khoản vay 30.000.000đ, kể từ ngày 29/8/2017 (âm lịch) tức là ngày

18/10/2017 là 32 tháng 05 ngày (30.000.000đ x 0,83%/tháng x 32 tháng 05 ngày) = 8.009.500đ (Tám triệu không trăm linh chín nghìn năm trăm đồng);

+ Khoản vay 90.000.000đ, kể từ ngày 20/01/2019 (âm lịch) tức là ngày

24/02/2019 là 15 tháng 29 ngày (90.000.000đ x 0,83%/tháng x 15 tháng 29 ngày) = 11.927.100đ (Mười một triệu chín trăm hai mươi bảy nghìn một trăm đồng).

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận

toàn bộ. Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bà Lê Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để sung vào ngân sách Nhà nước, như sau: 305.841.900đồng x 5% = 15.292.095đồng. Hoàn trả lại bà M, ông L số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án

theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, Điều 144, 147, 235, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân năm 2015;

Căn cứ vào Điều 116, 117, 357, 463, 465, 466 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật

dân sự năm 2015; Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị M và ông Dương Nghĩa L.

2. Về trách nhiệm trả nợ:

- Buộc bà Lê Thị H phải có trách nhiệm trả cho bà Hoàng Thị M tiền nợ gốc

86.000.000đ (Tám mươi sáu triệu đồng) và lãi suất 13.609.700đ (Mười ba triệu sáu trăm linh chín nghìn bảy trăm đồng). Tổng cộng: 99.609.700đ (Chín mươi chín triệu sáu trăm linh chín nghìn bảy trăm đồng).

- Buộc bà Lê Thị H phải có trách nhiệm trả cho ông Dương Nghĩa L tiền nợ

gốc 170.000.000đ (Một trăm bảy mươi triệu đồng) và lãi suất 36.232.200đ (Ba mươi sáu triệu hai trăm ba mươi hai nghìn hai trăm đồng). Tổng cộng: 206.232.200đ (Hai trăm linh sáu triệu hai trăm ba mươi hai nghìn hai trăm đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi

hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị H phải chịu 15.292.095đ (Mười lăm

triệu hai trăm chín mươi hai nghìn không trăm chín mươi lăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để sung vào ngân sách Nhà nước. Hoàn lại cho bà Hoàng Thị M và ông Dương Nghĩa L 6.400.000đ (Sáu triệu bốn trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, theo biên lai thu số 0001057 này 07 tháng 01 năm 2020.

4. Thông báo về quyền kháng cáo: Có mặt nguyên đơn, bị đơn có quyền

kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên bản án.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ