vanban.org

Bản án 11/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai Tuyên án 30/12/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

Buộc ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh huyện Mang Yang Đông Gia Lai số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 30/12/2020 là: 390,328,766 đồng (Ba trăm chín mươi triệu, ba trăm hai mươi tám ngh n,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "DS"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN Hướng dẫn tổ chức tín dụng cho v…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG YANG
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2020/DS-ST
Ngày 30 tháng 12 năm 2020
“V/v Tranh chấp hợp
đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đại Dƣơng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông A Yun và ông Đoàn Nhƣ kiên.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đình Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 20/2020/TLST-DS ngày 28 tháng 4 năm 2020, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2020/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 11 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

Địa chỉ: 02 Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Trọng T.

Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Mang Yang Đông Gia Lai.

Địa chỉ: 279 Trần Hưng Đạo, thị trấn Kon Dơng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Dƣơng Đình V - Sinh năm: 1991

Bà Phạm Ngọc L – Sinh năm: 1990

Cùng địa chỉ: Làng T, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 17/3/2020, ời khai trong quá tr nh gi i quy t vụ án và t i phi n t a, thì y u cầu khởi kiện của nguy n đơn như sau:

Ngày 28 tháng 02 năm 2018 vợ chồng ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L có ký kết hợp đồng tín dụng số: 2018059/HĐTD với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Mang Yang Đông Gia Lai để vay số tiền 300,000,000 đồng (Ba trăm triệu đồng), thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày 28/02/2018 đến ngày 27/02/2019, hạn trả nợ gốc 1 kỳ vào ngày 27/02/2019, hạn trả lãi 03 tháng 01 lần vào ngày 27của tháng thứ 3 kế tiếp, mục đích vay để làm sân phơi và chăm sóc hồ tiêu, cà phê. Lãi suất tại thời điểm vay 10%/năm, lãi suất quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Hình thức bảo đảm tiền vay: Cho vay có cam kết thực hiện bảo đảm bằng tài sản là:

+ Đất trồng cây lâu năm tại Làng Thương, xã Kon Chiêng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CD 633715 do UBND huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai cấp ngày 29/3/2016. Thửa đất số: 19; tờ bản đồ số: 58; diện tích: 20.885,1m2 (Trong đó: đất trồng cây lâu năm 20.885,1m2, trên đất có 1.200 trụ tiêu). Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 1916861/HĐTC ngày 09/6/2016 đã được Ủy ban nhân dân xã Kon Chiêng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai chứng nhận thế chấp ngày 09/6/2016, hợp đồng thế chấp nêu trên đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Ngày 27/02/2019 khoản vay trên đến hạn trả nợ gốc, Ngân hàng đã nhiều lần mời ông Dương Đình Vỹư, bà Phạm Ngọc L đến làm việc, đề nghị thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nhưng ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và bỏ đi khỏi địa phương.

Do ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam yêu cầu Tòa án giải quyết:

1. Buộc ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L phải trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 30/12/2020 là: 390,328,766 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 300,000,000 đồng; tiền nợ lãi là: 90,328,766 đồng. Ngoài ra, Ngân hàng còn yêu cầu ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L phải trả tiền lãi phát sinh đến ngày tất toán khoản vay Ngân hàng.

2. Trường hợp ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L không trả được nợ hoặc không trả đủ số nợ trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp của ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 1916861/HĐTC ngày 09/6/2016 là thửa đất:

Đất trồng cây lâu năm tại Làng Thương, xã Kon Chiêng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CD 633715 do UBND huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai cấp ngày 29/3/2016. Thửa đất số: 19; tờ bản đồ số: 58; diện tích: 20.885,1m2 (Trong đó: đất trồng cây lâu năm 20.885,1m2, trên đất có 1.200 trụ tiêu).

Đối với bị đơn ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L : Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã nhiều lần triệu tập, niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông bà đều vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Qua xác minh tại nơi cư trú, chính quyền địa phương cho biết bị đơn ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L có hộ khẩu thường trú tại Làng T, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai nhưng hiện nay không sống ổn định tại nơi cư trú, không xác định được hiện đang ở đâu và thời điểm trở về cụ thể. Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai để ông bà đến tham gia phiên tòa nhưng ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L tiếp tục vắng mặt. Do vậy, không có lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì để Hội đồng xét xử xem xét.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang có ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ ngày thụ lý cho đến thời điểm xét xử và tại phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc bị đơn ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ số tiền nợ gốc là: 300,000,000 đồng, tiền nợ lãi tính đến ngày 30/12/2020 là: 90,328,766 đồng. Tổng số tiền phải thanh toán là: 390,328,766 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30/12/2020) cho đến khi thi hành xong các khoản nợ trên, ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 2018059/HĐTD ngày 28/02/2018. Nếu bị đơn ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L không trả được nợ hoặc không trả đủ số nợ trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với tiền thẩm định: Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 5,000,000 đồng (Năm triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã tạm ứng và chi phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghi n cứu các tài iệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra t i phi n t a và căn cứ vào k t qu tranh uận t i phi n t a, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 17/3/2020, nguyên đơn là Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có đơn khởi kiện yêu cầu ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L thanh toán số tiền nợ gốc là: 300,000,000 đồng, tiền nợ lãi tính đến ngày 30/12/2020 là 90,328,766 đồng. Tổng số tiền phải thanh toán là: 390,328,766 đồng. Xét hình thức, nội dung đơn khởi kiện là đúng theo quy định của pháp luật. Đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo kết quả xác minh của Tòa án tại Công an xã Kon Chiêng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai, bị đơn ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L có địa chỉ nơi cư trú đúng với địa chỉ mà nguyên đơn đã ghi trong đơn khởi kiện và đúng với địa chỉ ghi trong hợp đồng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã niêm yết về việc thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và niêm yết những văn bản tố tụng để tiến hành giải quyết theo thủ tục chung. Bị đơn đã được Tòa án tiến hành thủ tục triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng có vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L phải cùng có nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số: 2018059/HĐTD ngày 28/02/2018. Xét hình thức và nội dung của Hợp đồng tín dụng là phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự, lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn mà các bên thỏa thuận là phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Bị đơn không có ý kiến phản đối nên có căn cứ xác định hợp đồng tín dụng này là có thật.

[3] Xét nội dung Hợp đồng tín dụng số: 2018059/HĐTD ngày 28/02/2018; số tiền vay là 300,000,000 đồng (Ba trăm triệu đồng), ngày giải ngân là ngày 28/02/2018, lãi suất trong hạn 10.%/năm, lãi suất nợ quá hạn là 15%/năm. Thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày 28/02/2018 đến ngày 27/02/2019. Thời hạn trả nợ gốc: 1 kỳ vào ngày 27/02/2019, số tiền gốc: 300.000.000 đồng. Kỳ hạn lãi: 03 tháng một lần vào ngày 27 của tháng thứ 3 kế tiếp.

Quá trình thực hiện hợp đồng ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L chỉ trả được 22,438,357 đồng tiền lãi. Đến kỳ hạn tiếp tục trả lãi của khoản vay nhưng ông Dương Ngọc V, bà Phạm Ngọc L không nộp trả lãi theo kỳ hạn.

Ngày 27/02/2019 khoản vay trên đến hạn trả nợ gốc, Ngân hàng đã nhiều lần mời ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L đến làm việc, đề nghị thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nhưng ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên ngày 28/02/2019 Ngân hàng chuyển sang nợ quá hạn là phù hợp. Tổng tiền nợ lãi là: 112,167,123 đồng, nhưng đã trả 22,438,357 đồng, số tiền lãi còn phải trả là: 90,328,766 đồng. Tổng số tiền gốc và lãi phải trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm (30/12/2020) là: 300,000,000 đồng + 90,328,766 đồng = 390,328,766 đồng. Như vậy, Ngân hàng yêu cầu ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L phải trả số tiền nợ 390,328,766 đồng (Ba trăm chín mươi triệu, ba trăm hai mươi tám ngh n, b y trăm sáu mươi sáu đồng) là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Việc tính lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 13 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Cụ thể, vì các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nên nếu ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (30/12/2020) cho đến khi thi hành án xong ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.

[5] Xét yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp giữa các bên đã kí kết: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 1916861/HĐTC ngày 09/6/2016 giữa ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L và Ngân hàng là hợp pháp, nội dung thỏa thuận phù hợp với các quy định của Bộ luật dân sự. Bên thế chấp dùng tài sản thế chấp để đảm bảo cho các khoản nợ gốc, lãi và tất cả các nghĩa vụ liên quan khác. Theo quy định tại khoản 6 Điều 320 và khoản 1 Điều 299 của Bộ luật dân sự thì trong trường hợp đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên thế chấp phải giao tài sản thế chấp để xử lý. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu được xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ là phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn là người có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định tại khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cụ thể, bị đơn phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 390,328,766 đồng phải trả cho Ngân hàng là: 19,516,438 đồng (Mười chín triệu, năm trăm mười sáu ngh n, bốn trăm ba mươi tám đồng) và trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 5,000,000 đồng (Năm triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã tạm ứng, chi phí.

Trả lại cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là: 8,870,000 đồng.

V các ẽ tr n;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 273; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số: 326/2016 UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Áp dụng khoản 3 Điều 40; khoản 1 Điều 299; khoản 6 Điều 320; Điều 465; Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 90, 91, Điều 94, Điều 95, Điều 98 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2018; Điều 1 Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam về việc hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

1. Buộc ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh huyện Mang Yang Đông Gia Lai số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 30/12/2020 là: 390,328,766 đồng (Ba trăm chín mươi triệu, ba trăm hai mươi tám ngh n, b y trăm sáu mươi sáu đồng). Trong đó: Tiền nợ gốc là: 300,000,000 đồng (Ba trăm triệu đồng) và tiền nợ lãi là: 90,328,766 đồng (Chín mươi triệu, ba trăm hai mươi tám ngh n, b y trăm sáu mươi sáu đồng ), theo hợp đồng tín dụng số: 2018059/HĐTD ngày 28/02/2018.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30/12//2020) cho đến khi thi hành xong các khoản nợ trên, ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 2018059/HĐTD ngày 28/02/2018

2. Về xử lý tài sản thế chấp: Trong trường hợp ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L không trả được nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ nêu trên cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, thì Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo nội dung các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 1916861/HĐTC ngày 09/6/2016.

3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Chi nhánh huyện Mang Yang Đông Gia Lai 5,000,000 đồng (Năm triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã tạm ứng, chi phí.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Dương Đình V, bà Phạm Ngọc L phải liên đới chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 19,516,438 đồng (Mười chín triệu, năm trăm mười sáu ngh n, bốn trăm ba mươi tám đồng)

Trả lại cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là: 8,870,000 đồng (Tám triệu, tám trăm b y mươi ngh n đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0008418 ngày 27 tháng 4 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

5. Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/12/2020), các đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp b n án được thi hành theo quy định t i điều 2 Luật thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự, người ph i thi hành án dân sự có quyền tho thuận thi hành án, quyền y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo quy định t i các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ