vanban.org

Bản án 11/2020/DS-ST — Dân sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 30/08/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị T đối với vợ chồng bà Đào Thị T và ông Lê Văn T.

Công nhận hợp đồng mua bán thức ăn chăn nuôi được giao kết từ năm 2016 giữa bên bán là gia đình anh Nguyễn Văn T, vợ Nguyễn Thị T và bên mua là vợ chồng bà Đào Thị T và ông Lê Văn T. Buộc bà Đào Thị T, ông Lê Văn T phải trả cho anh T, chị T số tiền mua thức ăn chăn nuôi chưa T toán là 13.320.000đ ti… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị T đối với vợ chồng bà Đào Thị T và ông Lê Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI S
TỈNH S LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2020/DS-ST
Ngày: 30-7-2020
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán
tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI S, TỈNH S LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Văn Sơ

2. Ông Nguyễn Đức Việt

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai S, tỉnh S La

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Như Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai S, tỉnh S La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2020/TLST-DS ngày 23 tháng 6 năm 2020 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 08/2020/QĐST-DS ngày 27/7/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T. Sinh năm: 1981 và vợ là Chị Nguyễn Thị T. Sinh năm: 1985. Cùng có ĐKNKTT: Bản Chiềng Yên, xã Yên S, huyện Yên Châu, tỉnh S La. Tạm trú: Bản Chi II, xã C , L, huyện Mai S, tỉnh S La. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Đào Thị T. Cùng chồng là Lê Văn T. Cư trú: Bản Kim S, xã C, N, huyện Mai S, tỉnh S La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 23/6/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như đơn trình bày ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn trình bày như sau:

Năm 2014, anh bắt đầu làm kinh doanh thức ăn chăn nuôi hãng cám con cò. Đến năm 2016 có bắt đầu đầu tư cho gia đình anh chị T, T trú tại bản Kim S, xã C, N, huyện Mai S, tỉnh S La. Thời gian đầu tư từ ngày 02/5/2016 đến ngày 22/6/2016, anh đã giao tổng số là 38 bao, thành tiền là 13.320.000đ. Đã quá hạn T toán và anh đã đến đòi rất nhiều lần nhưng ông bà cứ khất lần và không hẹn ngày trả. Đến nay, anh không thể chờ đợi thêm được nữa vì số tiền này anh cũng phải vay ngân hàng để đầu tư làm ăn. Vì vậy, anh khởi kiện yêu cầu buộc ông bà T, T phải T toán số tiền nợ cám trên và tiền lãi tính theo lãi xuất chậm trả (lãi theo quy định của pháp luật).

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập các đương sự để kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, vợ chồng bà T, ông T có nhận thông báo của Tòa nhưng từ chối làm việc với Tòa án, từ chối thể hiện ý kiến bằng văn bản, không cho tòa án tiến hành lấy lời khai về quan điểm của ông bà đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Và vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc tại Tòa án. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải được nên vụ án được đưa ra xét xử theo quy định.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai S, tỉnh S La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đều chấp hành đúng quy định của BLTTDS.

Về đường lối giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 430, 433, 434, 440, Điều 357, Điều 468, điểm b khoản 1 Điều 668 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 428, 438 Bộ luật dân sự năm 2005; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị T đối với vợ chồng bà Đào Thị T và ông Lê Văn T.

Công nhận hợp đồng mua bán thức ăn chăn nuôi được giao kết từ năm 2016 giữa bên bán là gia đình anh Nguyễn Văn T, vợ Nguyễn Thị T và bên mua là vợ chồng bà Đào Thị T và ông Lê Văn T.

Buộc bà Đào Thị T, ông Lê Văn T phải trả cho anh T, chị T số tiền mua thức ăn chăn nuôi chưa T toán là 13.320.000đ tiền nợ gốc theo giấy nhận nợ ngày 08/10/2018 và tiền lãi chậm trả tính từ ngày 11/12/2018 cho đến ngày xét xử sơ thẩm 30/7/2020 là 2.176.754đ. Tổng cộng: là 15.496.754đ (mười lăm triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn bảy trăm năm mươi bốn đồng).

Bà T và ông T phải chịu án phí Tòa án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Việm kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: Nguyên đơn xác nhận có giao dịch về mua bán thức ăn chăn nuôi với bà T và ông T từ năm 2016, và khởi kiện yêu cầu ông bà T, ông T trả số tiền cám cò chưa T toán theo hợp đồng. Do bị đơn cư trú tại bản Kim S, xã Còn Nòi, huyện Mai S, tỉnh S La nên Tòa án nhân dân huyện Mai S thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Trong quá trình giải quyết vụ án, căn cứ vào yêu cầu khởi kiện, các tài liệu do nguyên đơn cung cấp, Tòa án xác định bà T, chồng bà T là ông T là đồng bị đơn trong vụ án. Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, gửi các thông báo về phiên hòa giải, phiên họp công khai chứng cứ, thông báo kết quả phiên họp công khai chứng cứ cho bị đơn. Đồng thời tiến hành triệu tập hợp lệ đối với bị đơn. Bị đơn bà T và ông T dã nhận được các thông báo, giấy triệu tập của Tòa án nhưng cố tình vắng tại tất cả các buổi làm việc của Tòa án, nguyên đơn cũng có yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải. Nên căn cứ quy định tại Khoản 1, 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Trước khi mở phiên tòa, Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp quyết định xét xử và giấy triệu tập cho bà T và ông T nhưng bà T và ông T không có mặt tại Tòa án để xét xử nên căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là bà T, ông T.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Hội đồng xét xử nhận thấy:

Ngoài lời khai của nguyên đơn, nguyên đơn còn cung cấp cho Tòa án sao trích sổ nhận cám từ ngày 02/5/2016 đến ngày 22/6/2016, 01 giấy nhận nợ đề ngày 08/10/2018 với số tiền nhận nợ 13.320.000đ phù hợp với trích sổ nhận cám. Trong giấy nhận nợ, bà T, ông T có hẹn đến ngày 10/12/2018 sẽ T toán đầy đủ số tiền 13.320.000đ.

Toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các tài liệu do nguyên đơn cung cấp, thông báo kết quả phiên họp công khai chứng cứ đã được Tòa án tiến hành thông báo hợp lệ đối với bị đơn. Bị đơn biết việc nguyên đơn khởi kiện nhưng không có bất cứ ý kiến gì cũng như không cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu nào khác liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Do vậy, HĐXX nhận thấy: có đủ căn cứ xác định giữa vợ chồng anh T và chị T và vợ chồng bà T, ông T có giao dịch mua bán thức ăn chăn nuôi. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, anh T đã thực hiện đúng nghĩa vụ giao tài sản, bà T, ông T đã nhận đủ hàng nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ trả tiền là vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại tại Điều 438 Bộ luật Dân sự năm 2005. Nên việc khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền mua thức ăn chăn nuôi còn nợ lại 13.320.000đ là có căn cứ theo quy định của pháp luật.

. Về yêu cầu tính lãi: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải chịu khoản tiền lãi cho đến ngày xét xử sơ thẩm là 30/7/2020 theo q uy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thấy rằng:

Xét trong hợp đồng mua bán tài sản nếu các bên không có thoả thuận khác về thời gian T toán thì bên mua có nghĩa vụ T toán tiền tại thời điểm nhận tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 440 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 438 Bộ luật dân sự năm 2005. Theo lời khai của nguyên đơn và tài liệu do nguyên đơn cung cấp thì các bên không có thỏa thuận về pT thức giao hàng và T toán. Tuy nhiên, tại giấy nhận nợ đề ngày 08/10/2018, các bên có thống nhất thời hạn trả tiền là ngày 10/12/2018. Do vậy, việc tính lãi chậm trả được tính kể từ ngày tiếp theo của thời hạn trả tiền, ngày 11/12/2018.

Căn cứ Điều 440, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, việc tính lãi suất chậm trả được thực hiện như sau:

13.320.000đ x 1 năm x 10%/1 năm + 13.320.000đ x 7 tháng x 0,83%/thang + 13.320.000đ x 19 ngày x 0,028%/1ngày = 1.332.000đ + 773.892đ + 70.862đ = 2.176.754đ.

Như vậy, tổng số tiền vợ chồng bà T, ông T phải T toán gồm tiền gốc và lãi chậm trả cho vợ chồng anh T, chị T (tính đến ngày xét xử sơ thẩm) là 15.496.754đ (mười lăm triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn bảy trăm năm mươi bốn đồng). Trong đó: tiền cám phải trả là 13.320.000đ, lãi suất chậm trả là 2.176.754đ).

Về án phí: Bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Các Điều 430, 433, 434, 440, Điều 357, Điều 468, điểm b khoản 1 Điều 668 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Điều 428, 438 Bộ luật dân sự năm 2005;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị T đối với vợ chồng bà Đào Thị T và ông Lê Văn T.

Công nhận hợp đồng mua bán thức ăn chăn nuôi được giao kết từ năm 2016 giữa bên bán là gia đình anh Nguyễn Văn T, vợ Nguyễn Thị T và bên mua là vợ chồng bà Đào Thị T và ông Lê Văn T.

Buộc bà Đào Thị T, ông Lê Văn T phải trả cho anh T, chị T số tiền mua thức ăn chăn nuôi chưa T toán là 13.320.000đ tiền nợ gốc theo giấy nhận nợ ngày 08/10/2018 và tiền lãi chậm trả tính từ ngày 11/12/2018 cho đến ngày xét xử sơ thẩm 30/7/2020 là 2.176.754đ. Tổng cộng: là 15.496.754đ (mười lăm triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn bảy trăm năm mươi bốn đồng).

2. Về án phí:

Bà Đào Thị T, ông Lê Văn T phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 774.838đ (bảy trăm bảy mươi tư nghìn tán trăm ba mươi tám đồng).

Nguyên đơn anh Nguyễn Văn T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 333.000đ (ba trăm ba mươi ba nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0002202 ngày 23 tháng 6 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mai S.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (30/7/2020) cho đến khi thi hành án xong, bà Đào Thị T, ông Lê Văn T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 (10%/năm).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ