- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà Trần Thị M khởi kiện đòi nợ bà Vũ Thị S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Vũ Thị S, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 14/2019/DS-ST ngày 27/11/2019 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình:
- Căn cứ chính? Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11; Bộ luật Dân sự và văn bản; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2020/DS-PT Ngày 28-5-2020 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thanh Bình
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Lan Anh
Ông Lưu Toàn Nghĩa
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình: Bà Đỗ Thị Thái - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 28 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2020/TLPT-DS ngày 03 tháng 02 năm 2020 về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 14/2019/DS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 28/2020/QĐ-PT ngày 29/4/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2020/QĐ-PT ngày 14/5/2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị M (tứ c Trầ n Thị C), sinh năm 1963; Nơi cư trú: thôn V, xã Đ, huyệ n T, tỉnh Thái Bình.
2. Bị đơn: Bà Vũ Thị S, sinh năm 1964; Nơi cư trú: thôn V, xã Đ, huyệ n T, tỉnh Thái Bình
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trầ n Văn A , sinh năm 1964; Người đại diện theo ủy quyền của ông A: Bà Vũ Thị S , sinh năm 1964; Cùng cư trú: thôn V, xã Đ, huyệ n T, tỉnh Thái Bình.
4. Ngườ i là m chứ ng: Bà Đoàn Thị M1, sinh năm 1951; Nơi cư trú: thôn V1, xã Đ1, huyệ n T, tỉnh Thái Bình.
5. Người kháng cáo: Bà Vũ Thị S - Bị đơn.
(Bà M, bà S, bà M1 có mặt; ông A vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Nguyên đơn - bà Trần Thị M trình bày: Bà Vũ Thị S là cháu họ của chồ ng bà là ông Vũ Xuân Đ . Do bà S điề u kiệ n kinh tế khó khăn , lại là con cháu nên vợ chồng bà M đã thống nhất cho bà S vay tiền , vay thó c là m nhiề u lầ n. Các lần cho vay bà đều là người trực tiếp giao dịch với bà S , chồng bà S là ông Trầ n Văn A không bi ết việc bà S vay tà i sả n củ a vợ chồ ng bà . Cụ thể vợ chồng đã cho bà S vay:
- Các khoản vay tiền:
+ Khoản thứ nhất: Ngày 03/02/2007, bà S vay bà số tiền 40.000.000 đồng, mục đích để làm nhà, hai bên không thỏa thuận thời hạn vay và không tính lãi, có giấy biên nhậ n nợ do bà viế t, bà S ký tên.
+ Khoản thứ hai: Ngày 01/5/2008, bà S vay bà số tiền 100.556.000 đồng, mục đích để làm nhà, hai bên thỏa thuận lãi suất vay 1,2%/tháng, không thỏ a thuậ n thời hạn vay, có giấy biên nhậ n nợ do bà viế t, bà S ký tên.
+ Khoản thứ ba: Ngày 10/6/2009, bà S vay bà số tiền 165.770.000 đồng, mục đích để trả nợ người khác, hai bên thỏa thuận lãi suất vay 1,2%/tháng, không thỏ a thuậ n thời hạn vay, có giấy biên nhậ n nợ do bà viế t, bà S ký tên.
+ Khoản thứ tư: Ngày 19/6/2009, bà S vay bà số tiền 100.000.000 đồng, mục đích để trả nợ, hai bên thỏa thuận lãi suất vay 1,2%/tháng, không thỏ a thuậ n thời hạn vay, có giấy biên nhậ n nợ do bà viế t, bà S ký tên.
Đến ngày 10/10/2011 do bà S chưa trả bà tiền gốc và tiền lãi của cá c khoản vay trên, vì vậy hai bên đã tính toán cụ thể gốc lãi của từng khoản vay , cộ ng dồ n lạ i là 414.570.000 đồng. Bà đã gạ ch 04 giấ y nhậ n nợ ban đầ u . Bà S đã tự vi ết và ký Gi ấy biên nhận xác nhận nợ vợ chồ ng bà tổ ng s ố tiền là 414.570.000 đồng, bà S cũng ký thay chồng là ông Trần Văn A vào Giấy biên nhận trên. Bà yêu cầu bà S phải trả bà toàn bộ số tiền g ốc 414.570.000 đồng và tiền lãi tính từ tháng 10/2011 đến khi xé t xử sơ th ẩm theo quy định của pháp luật.
- Các khoản vay thóc:
+ Khoản thứ nhất: Ngày 10/10/2009, bà cho bà S vay 16 tấn 250kg thóc, loại thóc mộc tuyền, giá tiền khoảng 4.500.000 đồng/tấn, mục đích vay bà S nói để trả nợ, hai bên thỏa thuận lãi suất vay 1,2 tạ/tấ n, không thỏ a thuậ n th ời hạn vay. Bà S viế t Gi ấy biên nhận vay bà số thó c trên . Đến nay bà S chưa trả bà khoản thóc gố c và lãi nào. Bà yêu cầu bà S phải trả bà số thóc gốc là 16 tấn 250 kg và trả lãi từ tháng 10/2009 đến khi xé t xử theo quy định của pháp luật.
+ Khoản thứ hai: Năm 2009, bà S nhờ bà vào giúp một chân phường thóc (vì lúc đó bà S vay nợ nhiều , không ai cho chơi phườ ng ), vì vậy bà tham gia chơi phườ ng thó c củ a chủ phườ ng là bà Đoàn Th
ị M1, gồ m 16 chân phườ ng, mỗ i chân phườ ng 01 tấ n thó c, nế u lĩ nh phườ ng rồ i thì kỳ sau đó ng phườ ng là 1,5 tấ n (lãi 0,5 tấ n/1 kỳ). Bà xin nhận chân phư ờng số 01cho bà S, bà M1 nói không biết bà S là ai, chỉ biết thu phường củ a bà M . Bà M đã lấ y chân phường số 01 là 16 tấn thó c, giá thóc là 4.000.000 đồng/tấn và giao cho bà S nhận số tiề n trị giá 16 tấ n thóc là 64.000.000 đồ ng và o ngà y 10/6/2009. Bà M viế t giấ y giao phườ ng , bà S đã ký nhận tiền . Sau khi nhậ n tiề n , bà S chỉ nộp phường cho bà chân số 02 là 6.000.000 đồng (giá thóc 4.000.000 đồng/1 tấ n và cộng lãi 0,5 tấ n là 2.000.000 đồng), sau đó bà S không nộp tiếp 14 chân phường thóc còn lại, nên bà M phả i trự c tiế p n ộp cho bà M1, đến nay đã nộp xong. Bà yêu cầu bà S phải trả bà số thóc của 14 chân phường bà đã nộ p gồ m 14 tấn thóc gốc và 07 tấ n thó c lã i, tổng là 21 tấn thóc.
Bà M đã cung cấp cho Tòa án các tài liệu gồm: Giấy biên nhận ngày 10/10/2011 do bà S viết và ký xác nhận nợ số tiền 414.570.000 đồng; Giấy biên nhận ngày 10/10/2009 do bà S viết và ký xác nhận nợ 16 tấn 250 kg thóc; Giấ y giao phườ ng cho bà S ngà y 10/6/2009, bà S đã ký nhận.
* Bị đơn – bà Vũ Thị S trình bày: Bà và ông Vũ Văn Đ chồng bà M là họ hàng. Năm 2007, bà có vay ông Đ 30.000.000 đồng để giao cho chị T (con gái ông Đ) nhờ là m thủ tụ c cho con trai bà là anh Tr ần Văn T, sinh năm 1985 đi xuấ t khẩ u lao độ ng tạ i Hàn Qu ốc. Khi vay không viết giấy biên nhậ n. Trong 2 năm 2007 và 2008 bà đã trả xong cho ông Đ khoản vay trên , tổ ng cả gố c và lãi là 80.000.000 đồ ng, khi trả cũ ng không lậ p gi ấy tờ gì . Nay bà không có chứ ng cứ gì về việ c vay nợ , trả nợ đó . Ngoài ra bà không vay vợ chồng bà M ông Đ khoả n tiề n hay thó c nà o khá c. Bà không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiệ n củ a bà M, vì bà M trình bày hoàn toàn không đúng sự thật.
Đối với các tài liệu bà M giao nộp là gi ấy giao phường ngày 10/6/2009, giấy biên nhận ngày 10/10/2009, giấy biên nhận ngày 10/10/2011: Bà không viết, không ký nhận nợ và cũng không nhậ n bất kỳ khoản thóc hay tiền nào của bà M, chồng bà cũng không ký vào các tài liệu trên, bà cũng không ký thay chồng.
* Người có quyền, nghĩa vụ liên quan - ông Trần Văn A trình bày: Ông không biết việc vay nợ giữa bà M và bà S, vợ chồng ông cũng không vay tài sản gì của bà M.
* Người là m chứ ng - bà Đoàn Thị M1 trình bày: Bà là chủ phường thóc gồm 16 người, thỏa thuận thóc chơi phường là thóc tẻ , loại mộc tuyền , quy ướ c mỗ i chân phườ ng đó ng 01 tấ n mộ t kỳ , lãi 0,5 tấ n/kỳ, khi nộ p tí nh giá trị thóc ra tiền để nộp . Ngày 10/6/2009, bà có giao cho bà M chân phường số 01 là 16 tấn thóc, giá 4.000 đồng/kg, trị giá thành tiền là 64.000.000 đồng. Bà M có nói là “Em xin chân phường cho bà Vũ Thị S”, bà có nói là bà không giao dịch với bà S, chỉ giao dịch với bà M, sau khi tham gia phường bà M phải có trách nhiệm góp cho bà đầy đủ. Bà không liên quan đến bà S và cũng không biết bà S là ai.
Kết luận giám định số 354/C09-P5 ngày 29/10/2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an đã kết luận: Chữ ký, chữ viết trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 (trừ các chữ: “lãi xuất 1,2% Người Cho Vay Trần Thị C”, “Chồn Trần V A”) (Giấ y biên nhậ n vay tiề n ngà y 10/10/2011); Chữ ký, chữ viết trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 (Giấ y biên nhậ n vay thó c ngà y 10/10/2009); Chữ ký, chữ viết đứng tên Vũ Thị S dưới mục “Người Nhận Phường” trên mẫu cần giám định ký hiệu A3 (giấ y giao phườ ng ngà y 10/6/2009) so với chữ ký, chữ viết của Vũ Thị S trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 do cùng một người ký, viết ra.
Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2019/DS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình: đã áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; các Điều 209, 305, 388, 389, 405, 476 Bộ luậ t Dân sự năm 2005; Điề u 688 Bộ luậ t Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị M (tức C), buộc bà Vũ Thị S phải trả cho bà M các khoản nợ sau:
- Số tiền gốc: 414.570.000 đồng.
- Lãi suất từ ngày 10/10/2011 đến ngày 27/11/2019 là 283.469.220 đồng.
- 16 tấn 250 kg thóc: 102.375.000 đồng.
- Tiền lãi 16 tấn 250 kg thóc từ ngày 10/10/2009 đến ngày 27/11/2019 là: 80.009.797 đồng.
- 21 tấn thóc là: 132.300.000 đồng.
Tổng số tiền là: 1.012.724.017 đồng.
2. Về nghĩa vụ thi hành án: Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà S còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo lãi suất quy định tại điểm a khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015.
3. Về án phí: Trả lại bà M 5.000.000 đồng bà M đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm. Bà Vũ Thị S phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là: 42.381.720 đồng.
4. Về chi phí giám định: Bà S phải hoàn trả số tiền 8.500.000 đồng tạm ứng chi phí giám định cho bà M.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 10/12/2019, bà S nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, bà đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại quyết định của bản án sơ thẩm về tiền gốc , tiề n lãi bà phải trả cho bà M và án phí bà phải nộp.
* Tại phiên tò a phúc thẩm:
- Bị đơn - bà Vũ Thị S giữ nguyên yêu c ầu kháng cáo và trì nh bà y như tại Tòa án cấp sơ thẩm: Bà không vay tiền, thóc của bà M và cũng không nhận khoản tiền, thóc nào từ bà M, bà không viết, không ký cá c giấy nhậ n tiề n, nhậ n thóc với bà M. Bà không có ý kiến gì với Kết luận giám định. Bà đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử phúc th ẩm chấp nhận kháng cáo của bà, xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà xác nhận ở đị a phương bà khoả ng năm 2009, có các phường chơi thóc , thườ ng quy ướ c tí nh giá trị thó c mộ c tuyề n hoặ c khâm dục để góp phường , thờ i điể m đó khoả ng 4.000.000 đồ ng/tấ n thó c. Năm 2007 bà chỉ vay ông Đãi 30.000.000 đồ ng, bà đã bán vàng và chơi phường năm 2009 để trả nợ ông Đãi , phường do bà Trầ n Thị M là chủ phườ ng , gồ m 13 ngườ i chơi, mỗ i thá ng nộ p phườ ng 1.000.000 đồ ng, ai lĩ nh rồ i thì kỳ sau nộ p phườ ng là 1.300.000 đồ ng. Bà lĩnh phường kỳ đầu tiên 25/02/2009 đượ c 12.000.000 đồ ng (đã trả nợ ông Đ khoả n nợ 30.000.000 đồ ng vay năm 2007), phườ ng đã kế t thú c ngà y 25/02/2011, bà đã thực hiện xong việc nộp phường . Như vậ y bà không cò n nợ bà M, ông Đ khoả n nợ nà o. (Bị đơn giao nộ p mộ t văn bả n có nộ i dung chơi phườ ng như đã khai nêu trên).
- Nguyên đơn - Bà Trần Thị M trình bày: Về số tiền 414.517.000 đồng tại Giấy biên nhận ngày 10/10/2011 gồ m có : Tổ ng hợ p gố c , lãi của 04 khoản vay như bà đã trì nh bà y tại Tòa án cấp sơ thẩm, ngoài ra còn cộng cả tiền bà M mua chị u hà ng hó a củ a vợ chồ ng bà như đườ ng , sữ a, mắ m, muố i… Bà không nhớ cụ thể từ ng khoản tiền lãi, tiề n hà ng bà S nợ , nhưng đế n 10/10/2011 thì bà và bà S đã tính to án cụ thể và xác định số tiền bà S nợ vợ chồng bà tổng là 414.517.000 đồng, bà S xin vay tiếp và đã tự viết và ký giấy biên nhận ngày 10/10/2011 vớ i tổ ng số tiề n 414.517.000 đồ ng. Khi đó bà và bà S thỏ a thuậ n lã i suấ t 1,2% nhưng không ghi và o trong giấ y vay tiề n , khi bà yêu cầ u bà S trả nhiề u lầ n nhưng bà S không trả thì bà đã tự ghi chữ “Lã i suấ t 1,2%” và o Giấ y biên nhận vay tiề n đó . Bà đã yêu c ầu bà S trả khoản nợ này từ năm 2012, nhưng bà S không trả nợ bà . Nay bà yêu cầ u bà S trả bà toà n bộ tiề n gố c và lã i suấ t bằ ng lã i suấ t tiề n gử i củ a Ngân hà ng Ngoạ i thương Việ t Nam , tính từ khi vay đế n ngà y xé t xử sơ thẩ m là 208.704.875 đồ ng. Về khoả n nợ thó c , bà M trình bà y bà cho bà S vay 16.250kg thó c mộ c tuyề n, giá trị thóc thời điểm vay là 4.000.000 đồ ng/tấ n, quy ra tiề n để cho bà S vay , khi vay hai bên thỏ a thuậ n lãi suất 1,2 tạ/1 tấ n/1 năm, nhưng bà S viế t “lã i suấ t 1,25”, số “5” trong “1,25” chính là “năm” . Bà bắt đầu đòi nợ bà S khoả n nợ thó c từ năm 2010, còn thóc phường thì cứ đến khi nộ p phườ ng bà l ại đòi, nhưng bà S đề u khấ t , không trả nên bà buộ c phả i nộ p phườ ng thay bà S từ kỳ phườ ng thứ 3 đến hết kỳ 16, mỗ i kỳ 01 tấ n thó c gố c, 0,5 tấ n thó c lã i, phườ ng đã kế t thú c và o thá ng 12/2016, sau khi kế t thú c phườ ng , bà tiếp tục đòi nợ nhưng bà S vẫn không trả , bà yêu cầu bà S phải trả lại bà tổng số thóc gốc và lãi bà đã nộ p cho phườ ng bà M 1 là 21 tấ n. Bà không có căn cứ chứng minh về thờ i gian bắ t đầ u đò i nợ bà S . Toàn bộ tiền và thóc bà cho bà S vay là tài s ản chung của bà và ông Vũ Văn Đ (chồng bà). Bà đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử không ch ấp nhận kháng cáo của bà S, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Ông Vũ Văn Đ , sinh năm 1952 cư trú tạ i thôn V, xã Đ, huyệ n T, tỉnh Thái Bình (chồng bà Trầ n Thị M) trình bày tại phiên tòa phúc thẩm: Do bà S là cháu ông nên ông động viên bà M cho bà S vay tiền , vay thó c và nộ p phườ ng thóc thay cho bà S . Toàn bộ tiền và thóc đó đều là tài sản chung của vợ chồng ông. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông vào tham gia tố tụng và quyết định buộ c bà S trả nợ cho bà M mà không tuyên tr ả cho ông, tuy nhiên nế u bà M nhậ n tà i sả n do bà S trả thì cũ ng là tà i sả n chung củ a vợ chồ ng ông , không ả nh hưở ng đế n quyề n lợ i củ a ông , vì vậy ông nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩ m, không đề nghị Tò a á n cấ p phú c thẩ m xem xé t lạ i về quyề n lợ i củ a ông trong vụ á n.
- Bà Đoàn Thị M 1 giữ nguyên trì nh bà y tạ i cấ p sơ thẩ m và bổ sung
: Thóc quy ước chơi phường là thóc mộc tuyền , thờ i điể m bắ t đầ u chơi phườ ng giá trị thóc là 4.000.000 đồ ng/tấ n. Nhữ ng năm gầ n đây , đị a phương không cò n cấ y loạ i thó c đó nên quy ướ c thó c nộ p phườ ng là khâm dụ c , giá cũng tương đương thó c mộ c tuyề n . Bà M nhận kỳ phường đầu tiên , sau đó đã nộ p đủ phườ ng, phườ ng đã kế t thú c thá ng 12/2016.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bà S, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình theo hướng tí nh lạ i số tiền gốc và lãi theo quy đị nh phá p luậ t.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Kháng cáo của bị đơn gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định, bị đơn đã thực hiện nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, vì vậy kháng cá o là hợp lệ, đượ c xé m xé t giả i quyế t theo trì nh tự phú c thẩ m.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Trần Văn A vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã ủy quyền cho bà S tham gia tố tụng. Căn cứ khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt ông A.
Tại Tò a á n c ấp sơ thẩm bà M đã trình bày tại bản tự khai ngày 07/8/2019 về việ c vợ chồ ng bà đã cho bà S vay tiề n , vay thó c; ông Đ cũ ng tự khai ngà y 08/10/2019 trình bày số tiền cho bà S vay là của vợ chồng ông . Tại cấ p phú c thẩ m, bà M, ông Đ đề u xác định số tiền và thóc cho bà S vay, số thó c nộ p phư ờng thay bà S là tài sản chung của ông bà . Giấy biên nhận ngà y 10/10/2011 bà M cung cấp cho Tòa án thể hiện bà S nhận nợ của vợ chồng bà M 414.570.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Vũ Xuân Đ - sinh năm 1952, nơi cư trú: thôn V, xã Đ, huyệ n T, tỉnh Thái Bình (chồng bà M) tham gia tố tụng với tư cách Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên tạ i cấ p phú c thẩ m, bà M, ông Đ đề u trì nh bà y nhấ t trí vớ i quyết định của bản án sơ thẩm, vì không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đ. Như vậ y việ c Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Đ vào tham gia tố tụng với tư cách Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan , không quyế t đị nh đế n quyề n lợ i củ a ông Đ là thiế u só t, tuy nhiên do ông Đ , bà M nhất trí với bản án sơ thẩm , vì vậy không cầ n phả i hủ y bả n á n sơ thẩ m để giao cho Tò a á n cấ p sơ thẩ m xé t xử lạ i. Cầ n rú t kinh nghiệ m vớ i Tò a á n cấ p sơ thẩ m về vấ n đề nà y.
Tòa án cấp sơ th ẩm xác định bà Đoàn Thị M1 – sinh năm 1951; Nơi cư trú: thôn V1, xã Đ1, huyện T, tỉnh Thái Bình là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bà M1 là chủ phường thóc, trự c tiế p giao dị ch phườ ng vớ i bà M, việ c bà M nhậ n phườ ng rồ i giao lạ i cho bà S là mộ t quan hệ dân sự khá c giữ a bà S và bà M , việ c giả i quyế t vụ á n nà y không liên quan đế n quyề n và nghĩa vụ của bà M . Như vậ y Tòa án c ấp sơ thẩm xác định bà M1 là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên quyết định của bản án sơ thẩm không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà M1 và những người tham gia tố tụng khác. Vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định lại tư cách tố tụng củ a bà M1 là Người làm chứng trong vụ án.
Về pháp luật áp dụng:
Bà M trình bày cho bà S vay tiền, vay thóc, có viết Giấy biên nhận ngày 10/10/2011, Giấy biên nhận ngày 10/10/2009 và Giấy giao phường ngày 10/6/2009. Như vậy xác định thời điểm xác lập hợp đồng vay tài sản giữa bà M, bà S là trước ngày 01/01/2017 (ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành). Theo hướ ng dẫ n tạ i đi ểm c mục 1 và mục 3 Điều 2 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao (sau đây viế t tắ t là Nghị quyế t 01/2019) thì:
“ c)… Hợp đồng đang được thực hiện mà lãi, lãi suất không phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14-6-2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết.
…
3. Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng có lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 hướng dẫn tại khoản 1 Điều này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Mức lãi suất thỏa thuận không vượt quá mức lãi suất giới hạn quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
b) Lãi, lãi suất theo thỏa thuận được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nhưng không được pháp luật trước ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành quy định.
c) Lãi, lãi suất, được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nhưng pháp luật trước ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành quy định khác.”.
Như vậ y, đố i vớ i cá c hợ p đồ ng vay tà i sả n giữ a nguyên đơn và bị đơn , đượ c xá c lậ p khi Bộ luậ t Dân sự năm 2005 có hiệu lực và không thuộc các trườ ng hợ p quy đị nh tạ i mụ c 3 Điề u 2 Nghị quyết số 01/2019, vì vậy cần áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết tranh chấp giữa các đương sự trong vụ á n.
Về nộ i dung : Xét yêu cầu kháng cáo của bà Vũ Thị S thấy: Bà S không thừ a nhậ n cá c hợ p đồ ng vay tà i sả n như bà M yêu cầ u , nhưng bà S không lý giả i đượ c tạ i sao bà M có cá c giấ y biên nhậ n bà S viế t và ký
. Bà S cũng không có ý kiến gì về bản Kết luận giám định số
354/C09-P5 ngày 29/10/2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an giá m đị nh đố i vớ i cá c giấ y biên nhậ n bà M cung cấ p, không yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm trưng cầ u giám định lại. Vì vậy Kết luận giám định số 354/C09-P5 ngày 29/10/2019 nêu trên là căn cứ xá c đị nh giá trị phá p lý củ a các chứng cứ chứ ng minh việ c vay nợ giữ a bà S với vợ chồng bà M trong vụ án.
Xét cụ thể các hợp đồng vay tài sản giữa các bên:
Về hợ p đồ ng vay tiề n:
Bà M trình bày số tiền
414.570.000 đồ ng bà cho bà S vay ngà y 10/10/2011 là do cộng gốc lãi của 4 khoản bà S đã vay trước đó cùng với số tiề n bà S mua chị u hà ng hó a củ a vợ chồ ng bà và đã cung cấ p 04 giấ y nhậ n nợ (đã gạ ch ché o ) và “Giấy biên nhận” ngày 10/10/2011 có nội dung “ cháu S A nhậ n lợ số tiề n trên của ông bà Đ tổ ng số tiề n là 414.570.000 bố n trăm mườ i bố n triệ u năm trăm bẩ y mươi ngà n đồ ng chẵ n . Ngườ i nhậ n lợ vợ Vũ Thị S , chồ n Trầ n V A , ngườ i cho vay Trầ n Thị C . Lãi xuất 1,2%”, thể hiệ n nộ i dun g ngày 10/10/2011 bà M, bà S đã thống nhất cộng dồn các khoản tiền bà S còn nợ vợ chồ ng bà M và gạ ch bỏ cá c giấ y biên nhậ n cũ như bà M trì nh bà y là có cơ sở . Như vậ y xá c đị nh cá c bên đã xá c lậ p giao dị ch dân sự mớ i , về việ c bà S vay vợ chồ ng bà M 414.570.000 đồ ng kể từ ngà y 10/10/2011, các bên không thỏa thuận thời hạn trả nợ.
Kết luận giám định số 354/C09-P5 ngày 29/10/2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an đã kết luận: Chữ ký, chữ viết trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 (trừ các chữ: “lãi xuất 1,2% Người cho vay Trần Thị C”, “Chồn Trần V A”) so với chữ ký, chữ viết của Vũ Thị S trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 do cùng một người ký, viết ra.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận ngày 10/10/2011 bà S vay vợ chồng bà M số tiền 414.570.000 đồng.
Về lã i suấ t : Trong Giấ y biên nhậ n ngày 10/10/2011 bản photocopy bà M nộ p cho Tò a á n cấ p sơ thẩ m kè m theo đơn khở i kiệ n, (có xác nhận của thẩm phán ngày 31/7/2019 “Đã đố i chiế u bả n g ốc”) không có dò ng chữ “lã i suấ t 1,2%”, nhưng tạ i bả n chí nh giấ y biên nhậ n bà M nộ p tạ i Tò a á n cấ p sơ thẩ m ngày 20/9/2019 thì lại có dòng chữ “lãi suất 1,2%”. Tại Quyết định trưng cầu giám định số 02/2019/QĐ-TCGĐ ngà y 26/9/2019 Tòa án cấp sơ thẩm không trưng cầ u giá m đị nh dò ng chữ “lã i suấ t 1,2%”, tổ chứ c giá m đị nh cũng không giám định và không kết luận về nội dung này . Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bà M thừ a nhậ n dò ng chữ đó bà đã viế t thêm sau khi đò i nợ nhiề u lầ n bà S không trả . Còn bà S trình bày không th ỏa thuận với bà M lãi suất 1,2% vì bà không nợ tiền bà M. Như vậ y nộ i dung về lã i suấ t nà y là ý chí củ a cá nhân bà M , không phải là sự thỏa thuận giữa bên cho vay và bên vay , vì vậy không phát sinh nghĩa vụ trả nợ lãi của bên vay . Tòa án cấp sơ thẩm đã không làm rõ mà chấp nhậ n yêu cầ u củ a bà M , buộ c bà S phả i trả cho bà M cả gố c và lã i củ a khoả n vay trên là thiế u só t trong đá n h giá chứ ng cứ , sai lầ m trong á p dụ ng phá p luậ t , làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà S. Cấ p phú c thẩ m sử a á n sơ thẩ m, buộc bà S phải trả bà M khoản tiền gố c 414.570.000 đồng, không chấp nhận yêu cầu của bà M buộc bà S phải trả lãi đối với khoản vay này từ ngà y 10/10/2011 đến thờ i điể m xé t xử sơ thẩ m.
Về hợ p đồ ng vay thóc:
- Hợ p đồ ng ngày 10/10/2009: Mặ c dù bà S không thừ a nhậ n vay 16 tấ n 250 kg thó c củ a bà M , tuy nhiên căn cứ giấ y biên nhậ n có nộ i dung “Ngày 10/10/209 chị S vay của thím đãi số thóc (16 tấ n 250 lãi suất 1,25) mườ i sá u tấ n hai trăm năm mươi kg . S Vũ Thị S ” và Kết luận giám định số 354/C09-P5 ngày 29/10/2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an đã kết luận: Chữ ký, chữ viết trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 (Giấy biên nhận ngày 10/10/2009) so với chữ ký, chữ viết củ a Vũ Th ị S trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 do cùng một người ký, viết ra.
Vì vậy có đủ cơ sở xác định ngày 10/10/2009, bà S đã vay củ a vợ chồ ng bà M 16 tấn 250 kg thóc. Về lã i suấ t, bà M trình bày bà và bà S thỏa thuận lãi suấ t 1,2 tạ/1 tấ n thó c/năm, số 5 trong “1,25” chí nh là “năm” . Bà S không thừa nhậ n trì nh bà y củ a bà M . Như vậ y nộ i dung “lã i suấ t 1,25” tuy đã đượ c bà S viết trự c tiế p trong giấ y biên nhận, nhưng không rõ là “1,25 tạ”, hay “1,25 tấ n”, hay “1,25%”; không rõ tí nh trên 01 tấ n hay trên tổ ng số thó c vay. Vì vậy thuộc trườ ng hợ p cá c bên có thỏa thuận lãi nhưng không xác địn h rõ lã i suấ t. Cần áp dụng khoản 2 Điề u 476 Bộ luậ t Dân sự năm 2005“Trong trườ ng hợ p cá c bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấ p về lã i suấ t thì á p dụ ng lã i suấ t cơ bả n do Ngân hà ng Nhà nướ c công bố tương ứ ng vớ i thờ i hạ n vay tạ i thờ i điể m trả nợ ” . Quyế t đị nh số 2868/QĐ-NHNN ngà y 29/11/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định mức lãi suấ t cơ bả n bằ ng đồ ng Việ t Nam là 9%/năm.
Điều 474 Bộ luậ t Dân sự năm 2005: Nghĩa vụ trả nợ của bên vay
1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
Như vậ y, theo quy đị nh nêu trên , bà S vay thóc của bà M thì phải trả bằ ng thó c. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bà S và bà M đều trình bày hiện nay nông dân không cò n cấ y loạ i thó c mộ c tuyề n , trên thị trườ ng không có thó c mộ c tuyề n (là loại thóc bà M cho bà S vay). Vì vậy cần buộc bà S phải trả cho bà M trị giá số thóc vay theo giá trị củ a thó c mộ c tuyề n tạ i thờ i điể m vay như cá c bên đã trì nh bà y tạ i phiên tò a (thờ i điể m năm 2009 giá 4.000 đồ ng/1 kg) và trả lãi suất cho bà M theo mứ c lã i suấ t cơ bả n củ a Ngân hà ng Nhà nướ c công bố trên số tiề n giá trị củ a 16 tấ n 250 kg thó c gố c. Cụ thể:
Gố c: 16 tấ n 250 kg x 4.000/1kg đồ ng = 65.000.000 đồ ng.
Lãi: Từ 10/10/2009 đến ngày xét xử sơ thẩm 27/11/2019 là 10 năm 01 tháng 17 ngày.
65.000.000 đồ ng x 9%/năm x 10 năm 01 tháng 17 ngày = 59.263.750 đồ ng.
Tổ ng cả gố c và lã i củ a khoả n vay nà y là : 124.263.750 đồ ng.
Về khoả n vay thó c phườ ng:
Xét việc bà M trình bày bà tham gia chơi phường thóc của bà M , mục đí ch để chơi phường hộ bà S, bà đã giao cho bà S trị giá củ a 16 tấn thóc (chân phường số 01). Lờ i trì nh bà y củ a bà M đượ c chứ ng minh bở i giấ y giao phườ ng, có nội dung: “Giao phườ ng S A nhậ n . Phườ ng 16 ngườ i x 1 tấ n = 16 tấ n. Trừ chân nhà 1 tấ n, còn 15 tấ n x 4.000.000. Ngày 10/6/2009 S A đã nhậ n đủ 16 tấ n thóc cả chân nhà giá 4.000.000/tấ n. Tổ ng thà nh tiề n là 64.000.000) = sáu tư triệ u bằ ng tiề n = thóc = 16 tấ n. Lấ y rồ i phả i trả 1 tấ n = 1 tấ n 500 kg. Ngườ i nhậ n phườ ng S Vũ Thị S . Ngườ i giao phườ ng Trầ n Thị C ” và Kết luận giám định số 354/C09-P5 ngày 29/10/2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an đã kết luận: Chữ ký, chữ viết đứng tên Vũ Thị S dưới mục “Người nhận phường” trên mẫu cần giám định ký hiệu A3 (Giấy nhận phường ngày 10/6/2009) so với chữ ký, chữ viết của Vũ Thị S trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 do cùng một người ký, viết ra. Ngoài ra, còn chứng minh bằng lờ i trì nh bà y củ a ngườ i là m chứ ng bà Đoà n Thị M 1 về việ c và o thá ng 6/2009, bà M (C) có tham gia phường thóc do bà làm chủ, khi lĩ nh chân phườ ng số 01 vào ngày 10/6/2009, bà M có nói lĩnh hộ bà S , nhưng bà trả lờ i không chơi phườ ng vớ i bà S chỉ giao dị ch vớ i bà C (M).
Như vậ y, xác định bà M có tham gia chơi phường thóc với bà M 1, khi lĩnh phường kỳ thứ nhất đã giao số thóc lĩnh phường cho bà S là 16 tấ n thó c và đã thố ng nhấ t vớ i bà S về quy ướ c nộ p phườ ng cá c kỳ phườ ng tiế p theo . Bà M xác định bà S đã nộp xong kỳ phường thứ 02 cả gốc là lãi và 1,5 tấ n thó c. Như vậ y bà S đã ký nhậ n phườ ng , đã nộ p kỳ phườ ng thứ 02 theo đú ng thỏ a thuậ n giữ a cá c bên, thể hiệ n bà S thố ng nhấ t vớ i cá c nộ i dung trong giấ y giao phườ ng bà M đã ghi . Bà M, bà M1 đều trình bày , quy ướ c củ a phườ ng là ai đã lĩ nh phườ ng thì mỗ i kỳ phườ ng sau phả i nộ p 01 tấ n thó c gố c, 0,5 tấ n thó c lã i. Bà M đã nộ p đầ y đủ từ kỳ phườ ng thứ 03 đến hết kỳ thứ 16, tổ ng là 14 kỳ = 21 tấ n thóc. Bà M yêu cầu bà S hoàn trả bà 14 tấ n thó c gố c và 07 tấ n thó c lã i là có cơ sở , cầ n chấ p nhậ n.
Bà M, bà M1 đều trình bày thời điểm chơi phường , quy ướ c thó c gó p phườ ng là thó c tẻ , loại thóc mộc tuyền. Hiệ n nay trên thị trườ ng không có thó c mộ c tuyề n, vì vậy cần buộc bà S hoàn trả bà M trị giá của thóc tẻ trung bình tại đị a phương là 6.300 đồ ng/kg: 21 tấ n x 6.300 đồ ng/kg = 132.300.000 đồ ng.
Như vậ y, tổ ng cả 3 khoản vay, buộ c bà S phả i thanh toá n trả cho bà M là 671.133.750 đồ ng.
Về chi phí tố tụ ng , nghĩa vụ chậm thi hành án và án phí dân sự sơ thẩ m:
- Do kế t quả giá m đị nh chứ ng minh yêu cầ u củ a bà M là có căn cứ nên Tòa án cấp sơ thẩm quyết định buộc bà S phải chịu chi phí giám
đị nh là 8.500.000 đồ ng là đú ng quy đị nh Điề u 161, 162 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự . Tuy nhiên bả n á n sơ thẩ m không á p dụ ng các điều luật trên là thiếu sót , cầ n khắ c phục tại cấp phúc thẩm.
- Về nghĩ a vụ chậ m thi hà nh á n : Bản án sơ thẩm quyết định nghĩa vụ chậ m thi hà nh á n không đú ng hướ ng dẫ n tạ i Nghị quyế t số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, cấ p phú c thẩ m cầ n sử a á n sơ thẩ m , quyế t đị nh về lã i suấ t chậ m thi hà nh á n đú ng quy đị nh phá p luậ t.
- Về á n phí dân sự sơ thẩ m : Do cấ p phú c thẩ m quyế t đị nh lạ i về quyề n và nghĩa vụ của đương sự, vì vậy căn cứ khoản 2 Điề u 148 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự khoả n 4 Điề u 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/11/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để xá c đị nh lạ i á n phí dân sự sơ thẩ m:
+ Bà S phải án phí chịu tương ứng với nghĩa vụ p
hải trả cho bà M : 20.000.000 đồ ng + 4% (671.133.750 đồ ng – 400.000.000 đồ ng) = 30.845.350 đồ ng.
+ Bà M phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận
(tiền lãi của số tiền 414.570.000 đồng) là 280.704.875 đồ ng x 5% = 14.035.244 đồ ng.
Từ nhữ ng phân tí ch, đá nh giá trên đây, Hộ i đồ ng xé t xử thấ y:
Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật chưa đúng , vì vậy cần áp dụng khoản 2 Điề u 308; Điề u 309 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự , chấ p nhậ n mộ t phầ n khá ng cá o củ a bị đơn , sử a bả n á n sơ thẩ m số 14/2019/DSST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tiề n Hả i , tỉnh Thái Bình về số tiề n gố c, lãi phải trả cho bà M và xác định lại án phí sơ thẩm các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
Về á n phí dân sự phú c thẩ m: Kháng cáo của bà S được chấp nhận một phầ n nên bà S không phả i chị u á n phí dân sự phú c thẩ m . Trả lại bà S tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điề u 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Vũ Thị S, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 14/2019/DS-ST ngày 27/11/2019 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình:
Áp dụng Điều 147, 148, 161, 162, khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471, Điề u 474, khoản 2 Điề u 476, Điề u 479 Bộ luậ t Dân sự năm 2005; khoản 4 Điề u 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/11/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị M (tức Trần Thị C), buộc bà Vũ Thị S phải trả cho bà M các khoản nợ sau:
- Hợ p đồ ng vay tà i sả n ngà y 10/10/2011: số tiề n gố c 414.570.000 đồ ng.
- Hợ p đồ ng vay tà i sả n ngà y 10/10/2009:
+ Trị giá 16 tấ n 250 kg thó c nợ gố c: 65.000.000 đồ ng.
+ Lãi suất từ 10/10/2009 đến thời điểm xét xử sơ thẩm 27/11/2019: 59.263.750 đồ ng.
Cộ ng gố c và lã i = 124.263.750 đồ ng.
- Hợ p đồ ng ngà y 10/6/2009: Trị giá 21 tấ n thó c = 132.300.000 đồ ng.
Tổ ng cộ ng cá c khoả n bà S phả i trả cho bà M tí nh đế n ngà y xé t xử sơ
thẩ m 27/11/2019 là: 671.133.750 đồ ng (sáu trăm bẩ y mươi mố t triệ u mộ t trăm ba mươi ba ngà n bẩ y trăm năm mươi đồ ng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (27/11/2019) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2] Về chi phí tố tụ ng và á n phí dân sự sơ thẩm:
- Bà S phải chịu 8.500.000 đồ ng chi phí giá m đị nh. Bà S phải hoàn trả số tiề n 8.500.000 đồ ng cho bà M, do bà M đã nộ p tạ m ứ ng chi phí giá m đị nh.
- Bà S phải chịu 30.845.350 đồ ng án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà M phải chịu 14.035.244 đồ ng án phí dân sự sơ thẩm. Đối trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà M đã nộp là 5.000.000 đồ ng tạ i biên lai thu số 0009213 ngày 31/7/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải , bà Mây cò n phả i nộ p tiế p 9.035.244 đồ ng.
[3] Về á n phí dân sự phú c thẩ m : Bà S không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại bà S 300.000 đồ ng tạ m ứ ng á n phí phú c thẩ m đã nộ p tạ i biên lai thu số 0009341 ngày 10/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyệ n Tiề n Hả i, tỉnh Thái Bình.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo , kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại khoản 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 28/5/2020.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Bình; - Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải; - Chi cục THADS huyện Tiền Hải; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. - Lưu HC-TP. Các Thẩm phán Nguyễn Thị Lan Anh Lưu Toàn Nghĩa | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Bình HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Bình |