vanban.org

Bản án 11/2019/KDTM-PT — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn kháng cáo của Công ty TNHH cơ khí H làm trong hạn luật định; Sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 16/2019/KDTM-ST ngày 20/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới,

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Công ty TNHH cơ khí H phải trả nợ tiền hàng cho Công ty TNHH Ph số tiền 1.678.008.045 đồng (Một tỷ, sáu trăm bảy mươi tám triệu, không trăm linh tám ngàn, không trăm bốn mươi lăm đồng) chia thành hai đợt, đợt 1: đến ngày 24/11/2019 trả 500.000.000 đồng; đợt … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Vụ án kinh doanh thương mại về việc "Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa""
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn kháng cáo của Công ty TNHH cơ khí H làm trong hạn luật định; Sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 16/2019/KDTM-ST ngày 20/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới,
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:11/2019/KDTM-PT
Ngày:19 - 11 - 2019
“V/v: tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hoá”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn

Các Thẩm phán: Ông Trần Hữu Sỹ và ông Võ Bá Lưu

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nam - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Anh Đức - Kiểm sát viên

Trong ngày 19 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 10/2019/TLPT – KDTM ngày 24/9/2019 về việc tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hoá.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2019/KDTM - ST ngày 20 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1762/2019/QĐ - PT ngày 28 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH Ph (viết tắt: Công ty Ph); địa chỉ: đường T, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Người đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Ng - Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị B - Kế toán Công ty TNHH Ph (theo Giấy uỷ quyền ngày 06/5/2019). Ông Ng, bà B có mặt.

Bị đơn: Công ty TNHH cơ khí H (viết tắt: Công ty H); địa chỉ: thôn A, xã L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn H - Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh H1 - Kế toán Công ty TNHH cơ khí H. (theo Giấy uỷ quyền ngày 20/6/2019). Ông H, ông H1 có mặt.

Người kháng cáo: Công ty TNHH cơ khí H là bị đơn trong vụ án

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự và bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong các buổi hòa giải cũng như tại phiên tòa đại diện nguyên đơn - Công ty TNHH Ph (Công ty Ph) trình bày:

Năm 2016 và 2017, Công ty Ph đã ký kết 02 Hợp đồng mua bán nhiên liệu xăng dầu với Công ty TNHH cơ khí H (Công ty cơ khí H), cụ thể: Hợp đồng số 04/HĐMB/2016 ngày 31 tháng 12 năm 2015 và Hợp đồng số 06/HĐMB/2018 ngày 30 tháng 12 năm 2017 về việc mua bán xăng dầu. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Ph đã cung cấp đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng, đúng chủng loại hàng hóa và tiến độ giao nhận. Năm 2018, Công ty cơ khí H không thực hiện đúng theo cam kết Hợp đồng đã ký với Công ty Ph. Công ty Ph đã nhiều lần liên hệ, trực tiếp làm việc, có giấy đề nghị thanh toán gửi đến Công ty cơ khí H để yêu cầu thanh toán dứt điểm hết tiền hàng. Ông Nguyễn H đã nhiều lần viết cam kết thanh toán hết công nợ, nhưng trên thực tế Công ty cơ khí H đã cố tình dây dưa không thực hiện mà chỉ thanh toán nhỏ giọt. Công ty Ph đã ngừng cung cấp hàng và lập biên bản đối chiếu công nợ đến 31/8/2018 với số tiền nợ là: 2.251.607.545đ (hai tỷ, hai trăm năm mươi mốt triệu, sáu trăm linh bảy nghìn, năm trăm bốn mươi lăm đồng). Ông H đã ký xác nhận và viết giấy cam kết sẽ thanh toán dứt điểm số tiền trên chậm nhất là ngày 30/9/2018. Trên cơ sở có văn bản cam kết thanh toán và giấy đề nghị tiếp tục cung cấp xăng dầu, Công ty Ph đã tiếp tục cấp hàng cho Công ty cơ khí H với giá trị tiền hàng là: 715.351.800đ. Từ tháng 9/2018 đến hết tháng 12/2018 Công ty cơ khí H chỉ thanh toán được số tiền nợ là: 1.288.951.300đ và ông Nguyễn H không chịu tiếp tục đối chiếu ký nhận công nợ mặc dù về mặt số liệu đã có ký xác nhận công nợ của kế toán Công ty H. Vì vậy Công ty Ph khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Công ty cơ khí H phải trả cho Công ty Ph, với số tiền hàng dư nợ tính đến ngày 20/8/2019 là 1.678.008.045 đồng và yêu cầu Công ty cơ khí H phải trả cho Công ty Ph số tiền lãi chậm thanh toán theo Hợp đồng tính đến ngày 20/8/2019 là: 196.007.798 đồng. Tổng cộng số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 1.874.015.843 đồng và tiếp tục tính thêm số tiền lãi chậm thanh toán cho đến khi thanh toán hết số nợ cho công ty Ph.

* Tại bản tự khai, hòa giải và tại phiên tòa, đại diện của bị đơn – Công ty cơ khí H trình bày: Năm 2016 và năm 2017 Công ty Ph và Công ty cơ khí H có ký kết Hợp đồng số 04/HĐMB/2016 ngày 31 tháng 12 năm 2015 và Hợp đồng số 06/HĐMB/2018 ngày 30 tháng 12 năm 2017 về việc mua bán xăng dầu. Trong quá trình giữa hai bên mua bán hàng hóa, bên phía Công ty cơ khí H luôn thực hiện nghĩa vụ trả nợ với Công ty Ph, kể từ tháng 3 năm 2018 có chút chậm trể do bên công ty Ph cung cấp dầu không đúng chất lượng và gây thiệt hại cho bên Công ty cơ khí H, Công ty H có gọi điện và gửi công văn tới Công ty Ph. Hiện nay tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm Công ty H còn nợ Công ty Ph số tiền hàng là 1.678.008.045 đồng. Công ty H xác nhận số nợ này nhưng không xác nhận số tiền lãi tính kèm theo, Công ty H sẽ trả nợ cho Công ty Ph nhưng hiện nay điều kiện kinh doanh khó khăn nên xin được trả nợ dần số nợ trên. Công ty H cam kết trả nợ và yêu cầu Công ty Ph bồi thường những thiệt hại do dầu không đúng chất lượng gây ra.

* Về yêu cầu phản tố: Ngày 28/06/2019, Công ty cơ khí H có đơn phản tố gửi Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới với nội dung: (1)Về hợp đồng số 04/HĐMB/2016 ngày 31/12/2015 về việc mua bán xăng dầu giữa Công ty cơ khí H và Công ty Ph không có điều khoản nào quy định việc chậm thanh toán là phải trả lãi và mức lãi suất phải trả, vì vậy việc công ty Ph yêu cầu Công ty H thanh toán số tiền 98.431.718 đồng là không có cơ sở. Theo biên bản xác nhận công nợ mà công ty đã ký, tính đến ngày 31/8/2018, Công ty H còn nợ Công ty Ph số tiền: 2.251.607.545 đồng. Đến ngày 31/12/2018 Công ty cơ khí H đã trả cho Công ty Ph số tiền: 1.288.951.300đ, như vậy Công ty cơ khí H còn nợ Công ty Phú Hải số tiền: 962.656.245 đồng. (2) Sau khi Công ty cơ khí H đã ký xác nhận công nợ và yêu cầu công ty Ph cung cấp thêm hàng, ngày 31/8/2018 công ty Ph cung cấp thêm trị giá lô xăng dầu theo hóa đơn số 000756 ngày 31/8/2018 sau khi hàng nhập kho bình thường, sáng ngày hôm sau khi xe số 73C - 073..., xe số 73C - 070..., xe số 73C - 029..., xe số 73C - 063..., khi chạy ra đường thì chết máy, nguyên nhân: do xăng dầu của lô hàng này không đạt chất lượng; Ngày 01/9/2018 Công ty H đã gọi điện đến ông Đinh Ng yêu cầu ông hoặc cho nhân viên của ông đến kho dầu của Công ty H để làm việc về chất lượng của xăng dầu do Công ty Ph cung cấp nhưng không đến. 04 chiếc xe đầu kéo siêu trường, siêu trọng của Công ty H khi đổ xăng dầu giả nên thiệt hại rất nghiêm trọng, chi phí sửa chữa vào thời điểm đó của 04 chiếc đã lên đến 500.000.000đ. Về giấy tờ bằng chứng về thiệt hại Công ty cơ khí H cung cấp kèm theo đơn phản tố ghi ngày 18/6/2019, gồm: Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 30/9/2018 và hóa đơn giá trị gia tăng ngày 31/10/2018, bảng kê chi tiết công nợ của gara ô tô N, Công văn số 55/HS của Công ty cơ khí H gửi Công ty Ph. (3) Đề nghị Tòa án làm rõ nguồn gốc xăng dầu mà công ty Ph cung cấp cho Công ty TNHH cơ khí H sau ngày 30/09/2018 và ngày 31/10/2018 trị giá: 705.281.060 đồng là xăng giả; Yêu cầu công ty Ph bồi thường thiệt hại cho Công ty H số tiền 500.000.0000 đồng, sau khi nhận được tiền bồi thường, Công ty H sẽ chấp nhận công nợ mới và trả nợ lô xăng dầu trị giá: 1.678.008.045 đồng.

Tại bản án số: 16/2019/KDTM - ST ngày 20 tháng 8 năm 2019 của TAND thành phố Đồng Hới đã quyết định:

Áp dụng Điều 35; Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147; Điều 200; Điều 227; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 385; 386; 398; 401; 430; 436; 440; 357; 688 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Ph

Buộc Công ty TNHH cơ khí H phải trả cho Công ty TNHH Ph số tiền tính đến ngày 20/8/2019 là: 1.874.015.843 đồng (trong đó: tiền mua hàng còn nợ 1.678.008.045 đồng và nợ lãi 196.007.798 đồng)

Từ ngày 21/8/2019 cho đến khi trả hết nợ gốc và lãi, hàng tháng Công ty TNHH cơ khí H còn phải chịu thêm khoản tiền lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất đã được thỏa thuận tại hai Hợp đồng mà hai bên đã ký kết.

2. Án phí: Bị đơn Công ty TNHH cơ khí H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 68.220.000 đồng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên quyền, nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 28/8/2019 Công ty cơ khí H làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới đã tuyên.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bên đương sự đã thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận đó.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án:

- Về tố tụng: Người người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.

- Về nội dung: Căn cứ văn bản thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa Bản án sơ thẩm và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án nơi thực hiện hợp đồng giải quyết và cũng là nơi bị đơn có đăng ký trụ sở hoạt động kinh doanh, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới thụ lý và giải quyết vụ án theo đúng thẩm quyền quy định tại Điều 35; Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40 BLTTDS; Đơn kháng cáo của Công ty H làm trong hạn luật định và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, nên chấp nhận để xét xử phúc thẩm.

Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn lập văn bản thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án, cụ thể: Bị đơn Công ty cơ khí H có trách nhiệm trả cho Công ty Ph toàn bộ số tiền hàng còn nợ 1.678.008.045 đồng, chia thành hai đợt, đợt 1: đến ngày 24/11/2019 trả 500.000.000 đồng; đợt 2: đến ngày 14/01/2020 (tức ngày 20 tháng chạp âm lịch) trả số tiền còn lại 1.178.008.045 đồng; về số tiền lãi 196.007.798 đồng bị đơn không phải trả; Nếu bên bị đơn không thực hiện trả tiền hàng theo đúng cam kết, thì bị đơn phải chịu trả số tiền lãi theo Bản án sơ thẩm và tiền lãi quá hạn chậm thanh toán kể từ ngày xét xử sơ thẩm đến khi thanh toán hết số tiền nợ trên (theo lãi suất tiền vay của Ngân hàng BIDV Quảng Bình).

Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: sự thỏa thuận trên của các bên đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, cần áp dụng Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa Bản án sơ thẩm và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Về yêu cầu phản tố của Công ty cơ khí H cho rằng việc Công ty Ph giao xăng dầu sau ngày 30/09/2018 và ngày 31/10/2018 trị giá: 705.281.060 đồng kém chất lượng, yêu cầu Công ty Ph bồi thường thiệt hại 500.000.000 đồng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự: “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải”, như vậy yêu cầu phản tố của Công ty cơ khí H đưa ra sau các phiên họp, phiên hoà giải nên Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận thụ lý yêu cầu phản tố là đúng pháp luật.

Về án phí: Căn cứ khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Nguyên đơn Công ty TNHH Ph không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp 32.646.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005211 ngày 29/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới.

- Tòa án cấp sơ thẩm thông báo cho Công ty H nộp tiền tạm ứng án phí kháng cáo 300.000 đồng là không đúng với Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Toà án, bởi đây là vụ án kinh doanh thương mại nên cần buộc Công ty cơ khí H phải nộp thêm 1.700.000 đồng; Như vậy bị đơn Công ty cơ khí H phải chịu 62.340.241 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và 2.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm; cộng hai loại án phí Công ty H phải chịu nộp là 64.340.241 đồng, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, còn phải nộp tiếp 64.034.241 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 300, Điều 147, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Toà án.

Áp dụng Điều 50 và Điều 306 Luật Thương mại năm 2005; các Điều 385, 386, 398, 401, 430, 436, 440, 357, 468, 688 Bộ luật Dân sự, xử:

Chấp nhận đơn kháng cáo của Công ty TNHH cơ khí H làm trong hạn luật định; Sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 16/2019/KDTM-ST ngày 20/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới,

1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Công ty TNHH cơ khí H phải trả nợ tiền hàng cho Công ty TNHH Ph số tiền 1.678.008.045 đồng (Một tỷ, sáu trăm bảy mươi tám triệu, không trăm linh tám ngàn, không trăm bốn mươi lăm đồng) chia thành hai đợt, đợt 1: đến ngày 24/11/2019 trả 500.000.000 đồng; đợt 2: đến ngày 14/01/2020 (tức ngày 20 tháng chạp âm lịch) trả số tiền còn lại 1.178.008.045 đồng; về số tiền lãi 196.007.798 đồng theo quyết định của Bản án sơ thẩm bị đơn không phải trả; Nếu bên bị đơn không thực hiện trả tiền hàng theo đúng cam kết, thì bị đơn phải chịu trả số tiền lãi theo Bản án sơ thẩm và tiền lãi quá hạn chậm thanh toán kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ trên (theo lãi suất tiền vay của Ngân hàng BIDV Quảng Bình).

2. Án phí:

- Nguyên đơn Công ty TNHH Ph không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp 32.646.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005211 ngày 29/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới.

- Bị đơn Công ty TNHH cơ khí H phải chịu nộp 62.340.241 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và 2.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm; cộng hai loại án phí Công ty TNHH cơ khí H phải chịu nộp là 64.340.241 đồng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà công ty đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí kháng cáo số: AA/2017/0005512 ngày 04/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới, còn phải nộp tiếp 64.040.241 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (19/11/2019).

Cỡ chữ