vanban.org

Bản án 11/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước Tuyên án 28/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI
TỈNH BÌNH PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2019/HS-ST
Ngày: 28 - 01 - 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƢỚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn An

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Kha và Bà Trần Thị Hải Thương

-Thư ký phiên tòa: Ông Đào Hùng Thái - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Quản Văn Thanh - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 01 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Anh T (tên gọi khác: T khủng bố), sinh ngày 06/02/1999 tại Bình Phước; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thôn Đồng T, xã Phước T, huyện Phú R, tỉnh Bình Phước; chổ ở hiện nay ấp 03, xã Tân Th, thành phố Đồng X, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam, tôn giáo: Không, Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Xuân M, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1979; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Ngày 19/01/2016, bị Công an xã Tân Th, thị xã Đồng X (nay là Thành Phố Đồng X) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 29/QĐ-CAX với số tiền 750.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 30/01/2016, bị cáo Nguyễn Anh T đã nộp phạt xong.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/10/2018 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

Anh Lê Văn H, sinh năm 1994; trú tại địa chỉ khu phố Phước Th, phường Tân T, thành phố Đồng X, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Lưu K (tên gọi khác: K Đen), sinh năm 1972; trú tại địa chỉ tổ 05, khu phố Tân B, phường Tân B, thành phố Đồng X, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”.

Anh Lê Đức Anh V, sinh ngày 22/8/2004; trú tại địa chỉ ấp 02, xã Thuận Ph, huyện Đồng Ph, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Đức Anh V tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức H, sinh năm 1979 và Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; cùng trú tại địa chỉ ấp 02, xã Thuận Ph, huyện Đồng Ph, tỉnh Bình Phước (cha mẹ ruột của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Đức Anh V) “vắng mặt”.

Người làm chứng:

Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1958; trú tại địa chỉ tổ 04, khu phố Phước A, phường Tân X, thành phố Đồng X, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 18/10/2018, sau khi chơi Internet tại quán Đông Á, thuộc phường Tân B, thị xã Đồng X (nay là Thành phố Đồng X), tỉnh Bình Phước, Nguyễn Anh T cùng với Lê Đức Anh V, sinh ngày 22/8/2004 đến nhà nghỉ Thanh Trà, thuộc xã Tiến H, thành phố Đồng X thuê phòng số 115 để nghỉ. Đến khoảng 04 giờ ngày 19/10/2018 T thức dậy đi ra ngoài đến khu vực nhà để xe của nhà nghỉ thì T nhìn thấy trong nhà xe có để chiếc xe mô tô hiêu Honda Wave Alpha màu bạc đen biển số: 93H5- 4821 số máy: C09E- 6074834, số khung: 090X6Y074839 của anh Lê Văn H nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản bán lấy tiền tiêu xài. T đi tới chỗ để xe dùng tay bẻ cổ xe, rồi dùng dao Thái lan có sẵn trong người, cắt dây điện phía trước xe để nổ máy chạy đi nhưng không được. Lúc này T dắt xe ra khu vực gần cổng nhà nghỉ rồi vào phòng kêu V dậy và nói V kêu chủ nhà nghỉ mở cổng để đi ra ngoài. Sau khi mở cổng T dắt xe mô tô biển số: 93H5- 4821 ra ngoài, lúc này V hỏi T là xe mô tô ở đâu thì T nói là xe lấy trộm và nói V phụ đẩy xe thì V đồng ý. Sau đó V đẩy xe theo đường Phú R Đỏ. Khi đến gần khu vực bến xe Thành Công, thuộc phường Tân X, thành phố Đồng X thì T thuê một người chạy xe ôm (không rõ nhân thân, lai lịch) phụ đẩy xe, lúc này V ngồi trên mô tô biển số 93H5- 4821, còn T điều khiển xe của người chạy xe ôm, người chạy xe ôm ngồi phía sau. T vừa điều khiển xe, vừa dùng chân đẩy phụ xe cho V, khi đến khu vực ngã tư giao nhau giữa đường Nguyễn Huệ và đường Lê Quý Đôn thì T trả xe và đưa cho người chạy xe ôm 50.000 đồng, còn T và V tiếp tục đẩy xe 93H5- 4821 đến tiệm sửa xe của chị Nguyễn Thị Thu Th, ngụ tại khu phố Phước H, phường Tân T, thành phố Đồng X để sửa xe nhưng không sửa được thì T và V đẩy xe đến nhà bà Nguyễn Thị H2 ngụ tại khu phố Phước A, phường Tân X, thành phố Đồng X để gửi xe, rồi cả hai vào tiệm Internet gần đó để chơi game. Anh H sau khi bị mất xe đã trình báo sự việc đến Cơ quan Công an. Ngày 19/10/2018 T bị bắt khẩn cấp.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 133/KLĐG ngày 24/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố Đồng X định giá chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu bạc đen biển số: 93H5- 4821 số máy: C09E- 6074834, số khung: 090X6Y074839 trị giá: 6.000.000 đồng.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Đồng X đã thu giữ xe mô tô hiêu Honda Wave Alpha màu bạc đen biển số: 93H5- 4821 số máy C09E-6074834, số khung 090X6Y074839; 01 dao Thái lan cán gỗ màu vàng nâu.

Ngày 29/11/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Đồng X ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho chủ sỡ hữu là anh Lê Văn H.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Lê Văn H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số 18/CT-VKS-ĐX ngày 14/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng X truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 09 đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Do người bị hại anh Lê Văn H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo Nguyễn Anh T phải bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 con dao Thái lan cán gỗ đã cũ.

Bị cáo Nguyễn Anh T tại phiên tòa đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng X, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng số 18/CT-VKS-ĐX ngày 14/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng X, tỉnh Bình Phước.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, biên bản định giá tài sản; kết luận điều tra, vật chứng vụ án cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Thấy, phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Lợi dụng việc anh Lê Văn H để chiếc xe mô tô hiêu Honda Wave Alpha màu bạc đen biển số: 93H5 – 4821 tại nhà nghỉ Thanh Trà, thuộc xã Tiến H, Thành phố Đồng X không có người trong coi nên khoảng 04 giờ ngày 19/10/2018 Nguyễn Anh T đã lén lút bẻ cổ xe, sau đó rủ rê Lê Đức Anh V, sinh ngày 22/8/2004 đẩy chiếc xe đi sửa để chiếm đoạt.

[3] Tại bản Kết luận định giá tài sản số 133/KLĐG ngày 24/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Thành phố Đồng X định giá chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu bạc đen biển số: 93H5- 4821 số máy: C09E- 6074834, số khung: 090X6Y074839 đã qua sử dụng và còn hoạt động bình thường có giá trị: 6.000.000 đồng.

Căn cứ vào hành vi bị cáo T đã thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị 6.000.000 đồng nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng X truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Bị cáo là người đã thành niên, hoàn toàn nhận thức được việc lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để lén lút chiếm đoạt tài sản là hành vi phạm tội nhưng vì mục đích tiêu xài cá nhân mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người bị hại, là khách thể được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 19/01/2016, bị Công an xã Tân Th, Thành Phố Đồng X ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 29/QĐ-CAX với số tiền 750.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không biết lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân lại phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và H quả của hành vi phạm tội bị cáo gây ra mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Bị cáo được xem xét các tình tiết giảm nhẹ như sau: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần xem xét trọng việc lượng hình phạt đối với bị cáo.

Đối với Lê Đức Anh V do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Công an thành phố Đồng X đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt cảnh cáo về hành vi “ trộm cắp tài sản” nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Do người bị hại anh Lê Văn H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo Nguyễn Anh T phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về vật chứng của vụ án:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Cần tuyên tịch thu tiêu hủy 01 con dao Thái lan cán gỗ màu vàng nâu đã cũ.

[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng X tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 19/10/2018.

3. Về trách nhiệm dân sự: Do các bên không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về vật chứng vụ án:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 con dao Thái lan cán gỗ màu vàng nâu đã cũ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0001654, quyển số 0034, ký hiệu D47/2017 ngày 15/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Đồng X).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

6. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ