vanban.org

Bản án 11/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bình Long, tỉnh Bình Phước Tuyên án 09/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội Trộm cắp tài sản.

Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/12/2018. Kiến nghị Cơ quan điều tra Công an thị xã Bình Long xử phạt hành chính đối với Nguyễn Thanh T về hành vi trộm cắp sắt của anh Lê Huy Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BÌNH LONG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2019/HS-ST
Ngày: 09/4/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Hoàn

Bà Vũ Thị Dung

- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Tân Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình L1.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hùng Phong – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2019 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thị xã Bình L1 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2019/TLST-HS ngày 05/3/2019 theo Quyết Đ đưa vụ án ra xét xử số: 13/2019/QĐXXST-HS ngày 25/3/2019, đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T, sinh năm 1985, trú tại: tổ 7, ấp QL A, xã TL, huyện HQ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con bà Nguyễn Thị Ngọc Th; Tiền án: không; tiền sự: 02 lần bị Công an xã Tân Lợi, huyện Hớn Quản xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; 01 lần bị công an xã Thanh Phú, thị xã Bình Long xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản ; Bị bắt từ ngày 17/12/2018 bị tạm giam tới nay. Có mặt

Bị hại:

- Nguyễn Thắng T1, sinh năm 1986, trú tại: tổ 6, ấp QL A, xã TL, huyện HQ, tỉnh Bình Phước; (vắng mặt)

- Lê Huy Đ, sinh năm 1980, trú tại: tổ 3, khu phố PH 2, phường PĐ, thị xã BL, tỉnh Bình Phước; (vắng mặt)

- Lâm Thị C, sinh năm 1988, trú tại: tổ 8, ấp PL, xã TP, thị xã BL, tỉnh Bình Phước; (vắng mặt)

- Nguyễn Thị L, sinh năm 1959, trú tại: tổ 9, ấp QL A, xã TL, huyện HQ, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Nguyễn Thanh C1 sinh năm 1973, trú tại: tổ 4, khu phố PX, phường PT, thị xã BL, tỉnh Bình Phước; (vắng mặt)

- Đỗ Văn T2, sinh năm 1981, trú tại: tổ 1, khu phố PC, phường AL, thị xã BL, tỉnh Bình Phước; (vắng mặt)

- Lê Thanh H, sinh năm 1977, trú tại: tổ 1, khu phố PH 1, phường PĐ, thị xã BL, tỉnh Bình Phước; (vắng mặt)

- Bùi Hoàng L1, sinh năm 1962, trú tại: tổ 1, ấp HT, xã LT, huyện LN, tỉnh Bình Phước. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh T là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định đi lang thang trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy. Từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 12 năm 2018, T đã thực hiện 04 lần trộm cắp tài sản tại thị xã Bình Long và huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: khoảng 05 giờ ngày 23/10/2018, T đi bộ từ nhà đến lô cao su của ông Mai Công Thành thuộc ấp Quản Lợi A, xã Tân Lợi, huyện Hớn Quản thì nhìn thấy xe mô tô Future, biển kiểm soát: 93H5 – 9298 của ông Nguyễn Thắng T1 để ở chòi mủ, ông T1 lúc này đang cạo mủ cao su cách nơi để xe khoảng 200m, quan sát xung quanh thấy không có người nên T đến đẩy xe mô tô ra đường, đạp nổ máy (xe không có chìa khóa vẫn đạp nổ được) và điều khiển xe đến điểm thu mua phế liệu của ông Nguyễn Thanh C1 tại khu phố Phú Xuân, phường Phú Thịnh, thị xã Bình L1 bán được 400.000 đồng. T mở cốp xe thì thấy con dao cạo mủ nên lấy đem về nhà. Số tiền bán xe T đã tiêu xài và mua ma túy sử dụng hết.

Bản kết luận định giá số 143 ngày 31/10/018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hớn quản, tỉnh Bình Phước kết luận : 01 (một) xe mô tô Future, biển kiểm soát: 93H5 – 9298, số khung: RMMWCHLMM51018497, số máy: VZS152FMH-018497 trị giá 3.200.000 đồng.

Bản kết luận định giá số 01 ngày 03/01/019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hớn quản, tỉnh Bình Phước kết luận : 01 (một) con dao cạo mủ cao su trị giá 250.000 đồng.

Lần thứ hai: khoảng 07 giờ ngày 10/12/2018, T đi bộ từ nhà ra trung tâm thị xã Bình L1, khi đi ngang nhà anh Lê Huy Đ thấy nhà khóa cửa, không có người trông coi nên T trèo qua hàng rào vào trong khuôn viên. Khi đi sang bên hông nhà anh Đ, T nhìn thấy có nhiều thanh sắt, T lấy 01 ống sắt tròn phi 60, dài 6m đem về nhà, trên đường đi gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân), T đã bán cho người đàn ông này với giá 100.000 đồng. Sau đó, T tiếp tục quay lại nhà anh Đ, lấy 01 ống sắt tròn phi 60, dài 6m và 03 thanh sắt hộp (0,03x0,06x6)m bán cho bà Lê Thanh H tại tổ 1, khu phố Phú Hòa 1, phường Phú Đức, thị xã Bình Long được 200.000 đồng. Số tiền bán được T đã tiêu xài và mua ma túy sử dụng hết.

Bản kết luận định giá số 10 ngày 22/01/019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Bình L1, tỉnh Bình Phước kết luận : 02 (hai) ống sắt tròn phi 60, dài 6m trị giá 180.000 đồng, 03 thanh sắt hộp (0,03x0,06x6)m trị giá 270.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 450.000 đồng.

Lần thứ 3: khoảng 10 giờ ngày 15/12/2018, T đứng ở lô cao su tại Nông trường Quản Lợi thuộc ấp Ấn Lợi, xã Tân Lợi, huyện Hớn Quản thì thấy bà Nguyễn Thị L điều khiển xe mô tô hiệu Mance, biển kiểm soát: 93T1 – 6576 đi bóc mủ đất. T nhìn thấy bà L dựng xe mô tô trong lô cao su rồi đi bóc mủ đất cách đó khoảng 100m. Quan sát không có người, T tiến lại xe mô tô, đề nổ máy (xe không có chìa khóa vẫn nổ được) và điều khiển xe mô tô về đến tiệm lò rèn của ông Đỗ Văn T2 tại khu phú Phú Cường, phường An Lộc, thị xã Bình Long bán xe cho ông T2 với giá 300.000 đồng. Số tiền bán xe T đã tiêu xài và mua ma túy sử dụng hết.

Bản kết luận định giá số 02 ngày 07/01/019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hớn quản, tỉnh Bình Phước kết luận : 01 (một) xe mô tô hiệu Mance, màu sơn xanh, biển kiểm soát: 93T1 – 6576, số máy: VMT1P52FMHA-003955, số khung: RMTDCH0HY5A003955 trị giá 1.050.000 đồng.

Lần thứ tư: khoảng 07 giờ 00 phút ngày 16/12/2018, T đi bộ đến lô cao su 989 của Nông trường Quản Lợi thuộc tổ 6, ấp Phú Lạc, xã Thanh Phú, thị xã Bình Long thì nhìn thấy có một chiếc xe mô tô nhãn hiệu GUIDA, biển số: 93F9 - 7638 và 02 con dao cạo mủ cao su để trên xe của chị Lâm Thị C là công nhân cạo mủ của nông trường Quản Lợi. T quan sát xung quanh thấy không có người nên T nổ máy xe mô tô (xe cũ, không có chìa khóa), điều khiển chạy đến điểm thu mua phế liệu của ông Bùi Hoàng L1 tại tổ 1, ấp Hưng Thịnh, huyện Lộc Ninh bán được 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng). Hai con dao cạo mủ T dấu ở gần tiệm phế liệu rồi bắt xe về thị xã Bình Long. Số tiền này T dùng mua ma túy sử dụng và mua đồ ăn, uống hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 91 ngày 17/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Bình Long xác định tài sản mà T chiếm đoạt của chị C gồm xe mô tô nhãn hiệu GUIDA, biển số: 93F9- 7638, số máy: VTTJL1P50FMG, số khung: VTTDCG074TT005839 có giá trị 3.000.000 đồng và 02 con dao cạo mủ cao su có giá trị là 600.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 3.600.000 đồng.

Bản Cáo trạng số: 10/CT – VKSBL ngày 05/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận đã bốn lần thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản giống như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Những người bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có bản khai trình bày về việc bị mất trộm tài sản như bản cáo trạng đã nêu. Hiện nay họ đã được Cơ quan điều tra trả lại toàn bộ tài sản bị bị cáo T chiếm đoạt, họ không có yêu cầu gì thêm.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Lê Thanh H, Đỗ Văn T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng cũng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Họ trình bày việc đã mua các tài sản của bị cáo T nhưng khi mua họ không biết các tài sản này do T trộm cắp mà có, họ không yêu cầu T phải bồi thường. Ông Bùi Hoàng L1 có mặt tại phiên tòa và có lời khai giống như Lê Thanh H và Đỗ Văn T2. Đối với ông Nguyễn Thanh C1 vắng mặt tại phiên tòa, tại cơ quan điều tra C1 không thừa nhận mình mua xe mô tô của bị cáo T mà do T gửi xe tại nhà của C1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long luận tội bị cáo: rút một phần quyết Đ truy tố đối với lần phạm tội thứ hai - trộm cắp sắt của anh Lê Huy Đ. Nhưng vẫn truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội nhiều lần, có nhiều tiền sự, sau khi bị bắt đã thành khẩn khai báo, tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả cho người bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm tới 01 năm 06 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận Đ như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: trong quá trình Điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các chứng cứ tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập; các tài liệu chứng cứ do bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp đều phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về chứng cứ. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về hành vi phạm tội: tại phiên tòa Nguyễn Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố. Lời khai của bị cáo về cơ bản phù hợp với lời khai của những người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập về thời gian địa điểm và cách thức thực hiện tội phạm, đã được Hội đồng xét xử thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: trong khoảng thời gian từ tháng 10/2018 đến tháng 12/ 2018 Nguyễn Thanh T đã thực hiện 04 lần trộm cắp tài sản của những người bị hại, gồm: Nguyễn Thắng T1, Lê Huy Đ, Lâm Thị C, Nguyễn Thị L. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình L1 truy tố Nguyễn Thanh Tùng về tội Trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật hình sự, với tình tiết tăng nặng là Phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu để lén lút chiếm đoạt tài sản đem bán lấy tiền tiêu xài và sử dụng ma túy. Chỉ trong một thời gian ngắn bị cáo đã 04 lần chiếm đoạt tài sản của bốn bị hại khác nhau. Những hành vi này đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người bị hại, gây mất trật tự an toàn xã hội, tạo ra tâm lý bất an cho những người dân sinh sống trong khu vực. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, vì động cơ tư lợi. Mặc dù những tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn nhưng nó thể hiện bản chất chây lười của bị cáo, không chịu lao động kiếm sống hợp pháp mà chuyên rình dập, lén lút chiếm đoạt tài sản để thỏa mãn nhu cầu của bản thân.

Ngày 10/12/2018 bị cáo chiếm đoạt 04 cây sắt của anh Lê Huy Đ có giá trị 450.000 đồng; ngày 12/12/2018 bị cáo bị Công an xã Thanh Phú xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản. Như vậy hành vi trộm cắp sắt của anh Đ xảy ra trước khi bị cáo bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, nên hành vi trộm cắp này không cấu thành tội phạm (vì giá trị tài sản trộm cắp dưới 2.000.000đ). Tại phiên tòa hôm nay đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long rút quyết định truy tố đối với hành vi này là phù hợp. Tòa án xét xử bị cáo đối với ba hành vi trộm cắp gồm lần thứ nhất, lần thứ ba và lần thứ tư (theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát). Đối với hành vi trộm cắp sắt của anh Đ, tòa án sẽ kiến nghị Cơ quan điều tra xử phạt hành chính đối với bị cáo T.

Về nhân thân: bị cáo T có nhân thân xấu, bản thân nghiện ma túy, đã nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và trộm cắp tài sản. Đây là tình tiết để Hội đồng xét xử cân nhắc khi quyết định hình phạt.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo còn phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội hai lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ là Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và tình tiết Tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả cho chủ sở hữu theo điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo là không phù hợp vì bị cáo liên tục phạm tội, trong một thời gian ngắn đã thực hiện ba hành vi phạm tội nên không thuộc trường hợp Phạm tội lần đầu; việc cơ quan điều tra thu hồi được tài sản trả cho người bị hại cũng không phải là do bị cáo nên không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về phần dân sự: các tài sản mà bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho người bị hại, họ không có yêu cầu gì thêm nên không xét. Những người mua tài sản do bị cáo trộm cắp cũng không yêu cầu bị cáo phải trả lại tiền nên tòa không xét.

Về án phí sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, Lệ phí tòa án.

1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/12/2018.

Kiến nghị Cơ quan điều tra Công an thị xã Bình Long xử phạt hành chính đối với Nguyễn Thanh T về hành vi trộm cắp sắt của anh Lê Huy Đ.

3. Về án phí: bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ