- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Viết Th-Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Viết Th phạm tội Giết người.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11 /2019/HS-ST Ngày: 18 - 3 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Lộc.
Thẩm phán: Ông Tôn Anh Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Bá Trung.
2. Ông Nguyễn Tài Tuệ.
3. Ông Dương Tuấn Anh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Văn Nam – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2018/TLST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:
Lê Viết Th (tên gọi khác: G), sinh ngày 24/9/1994 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: 3/6/23 NL, phường TT, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Viết T (chết) và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự: Ngày 28/11/2017, bị Công an thành phố Huế xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích với mức phạt tiền 2.500.000 đồng.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/8/2018 cho đến nay. Có mặt.
* Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lê Viết Th: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971, nơi cư trú: 3/6/23 NL, phường TT, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
* Người bào chữa (theo chỉ định) cho bị cáo Lê Viết Th: Ông Nguyễn Văn Thanh – Luật sư của Văn phòng luật sư Bảo Cường thuộc Đoàn luật sư tỉnh Thừa Thiên Huế.
Địa chỉ: 11 Trần Cao Vân, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
* Bị hại: Ông Hà Ngọc D (đã chết).
- Những người đại diện hợp pháp của ông Hà Ngọc D:
Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1966; chị Hà Thị Uyên D, sinh năm 1988; chị Hà Thị Uyên T, sinh năm 1990; chị Hà Thị Uyên G, sinh năm 1997; chị Hà Thị Uyên T, sinh năm 1998. Đều trú tại: 1/51 NS, Tổ 14 (số mới 13) QT 3B, phường HKB, LC, thành phố Đà Nẵng. Bà Nguyễn Thị L, chị Hà Thị Uyên G, chị Hà Thị Uyên Th có mặt. chị Hà Thị Uyên D, chị Hà Thị Uyên Tvắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền cho bà L, chị D, chị Trâm, chị G, chị Th: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1987, nơi cư trú: Tổ 17, phường HKB, LC, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971, nơi cư trú: 3/6/23 NL, phường TT, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
* Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1973; nơi cư trú: 713 Kiệt 38 NGT, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1972; nơi cư trú: Lô E27 Khu tái định cư phường PH, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Anh Võ Văn T (Hưng), sinh năm 1999; nơi cư trú: 38/5 NGT, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Chị Cao Thị Bích Th, sinh năm 1992; nơi cư trú: 8/25 ÔIK, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Anh Hồ Vũ L, sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ 23, khu vực 6, phường TX, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI D VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 19/8/2018, ông Hà Ngọc D từ thành phố Đà Nẵng ra dự đám tang ông Lê Viết T tại nhà ông Tuấn và bà Nguyễn Thị H (bố mẹ Lê Viết Th) ở địa chỉ số 3/6/23 đường NL, phường TT, thành phố H. Sáng ngày 20/8/2018, khi đang chôn cất ông Tuấn tại nghĩa trang xã PS, huyện PĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế thì ông D nói với bà H, Th và một số người là: “Xong đám ni đưa thằng Th đi cai nghiện, bữa ni nó nặng quá để mẹ nó yên tâm buôn bán”.
Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, tại nhà bà H tổ chức lễ cúng “An vị”, ông D ngồi nói chuyện với bà Nguyễn Thị N và anh Võ Văn TH một lúc thì đi ra đứng trước sân. Lê Viết Th cầm 01 con dao dài 33 cm đi đến sau lưng ông D rồi cắt một nhát vào cổ làm ông D ngã gục xuống nền xi măng. Th cầm dao đi vào một góc sân nhà đứng cười một mình thì ông Nguyễn Văn D và anh Võ Văn TH đến tước được con dao trong tay Th, đồng thời báo Công an phường TT đến bắt giữ Th. Ông D bị Th cắt cổ gây sốc mất máu cấp nên đã chết trên đường đi cấp cứu.
Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ hung khí gây án và các dấu vết liên quan tại hiện trường.
Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 con dao bản dài 33 cm, loại dao có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại, mũi dao bằng; 01 dây thắt lưng màu đen có ghi chữ FASHION; 01 dây thắt lưng màu nâu có ghi chữ GIORGIO ARMANI; 01 chiếc áo tang màu trắng đã bị rách; mẫu máu thu của Lê Viết Th, mẫu máu thu của nạn nhân Hà Ngọc D, chất màu nâu đỏ thu tại lòng tay Lê Viết Th.
Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 295/GĐ ngày 15/9/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế xác định về nguyên nhân chết của ông Hà Ngọc D:
“1. Các kết quả giám định chính: Vùng cổ trước có một vết cắt có bờ mép sắc gọn, có chiều từ trái qua phải, từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, chiều dài 11 cm. Vết cắt vùng cổ gây đứt ngang qua sụn giáp dài 4,5 cm, thông vào lồng khí quản đoạn cổ và gây đứt cơ ức đòn chùm bên phải, đứt ¾ chu vi tĩnh mạch cảnh ngoài bên phải.
2. Kết luận: Nguyên nhân chết: Sốc mất máu cấp.
- Tổn thương gây chết: Vết đứt ¾ chu vi tĩnh mạch cảnh ngoài bên phải.
- Chiều hướng vết thương: Vết thương ở vùng cổ do vật mỏng, có lưỡi sắc gây ra theo chiều từ trái qua phải, từ trước ra sau, từ trên xuống dưới”.
Tại bản kết luận giám định số 310/GĐ ngày 21/9/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế, kết luận:
“- Chất màu đỏ ghi thu tại vị trí số 01 trong quá trình khám nghiệm hiện trường (ký hiệu M1) gửi giám định là máu người, nhóm O.
- Chất màu đỏ ghi thu tại vị trí số 02 trong quá trình khám nghiệm hiện trường (ký hiệu M2) gửi giám định là máu người, nhóm O.
- Chất màu đỏ ghi thu tại vị trí số 03 trong quá trình khám nghiệm hiện trường (ký hiệu M3) gửi giám định là máu người, nhóm O.
- Chất màu đỏ ghi thu tại lòng tay Lê Viết Th (ký hiệu M4), gửi giám định là máu người, nhóm O.
- Mẫu máu ghi thu của nạn nhân Hà Ngọc D (ký hiệu N1), gửi giám định thuộc nhóm O”.
Tại bản kết luận giám định số 311/GĐ ngày 30/9/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế, kết luận:
“- Trên con dao cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại màu đen, mũi bằng, ghi thu giữ của đối tượng Lê Viết Th (ký hiệu M1), gửi giám định có dính máu người, nhóm O.
- Trên dây lưng màu đen có ghi chữ FASHION ghi thu tại hiện trường ở vị trí số 5 (ký hiệu M2), gửi giám định không dính máu.
- Trên dây lưng màu nâu có ghi chữ GIORGIO ARMANI ghi thu tại hiện trường ở vị trí số 5 (ký hiệu M3), gửi giám định có dính máu người, nhóm O.
- Trên chiếc áo tang màu trắng đã bị rách, ghi thu tại hiện trường ở vị trí số 6 (ký hiệu M4), gửi giám định có dính máu người, nhóm O.
- Mẫu máu ghi thu của nạn nhân Hà Ngọc D (ký hiệu N1), gửi giám định thuộc nhóm O”.
Tại bản kết luận giám định số 626/C09C (Đ4) ngày 11/9/2018 của phân viện khoa học hình sự tại Đà Nẵng, kết luận: “Mẫu máu ghi thu của đối tượng Lê Viết Th gửi giám định không tìm thấy Ethanol (cồn), các chất ma túy và các chất kích thích khác thường gặp”.
Tại bản giám định pháp y tâm thần số 999/KLGĐTC ngày 06/11/2018 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Miền Trung đối với Lê Viết Th, kết luận:
“* Trước thời điểm gây án:
- Về mặt y học: Tâm thần phân liệt thể đơn thuần tiến triển liên tục (F20.60).
- Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
* Tại thời điểm gây án:
- Về mặt y học: Tâm thần phân liệt thể đơn thuần tiến triển liên tục (F20.60).
- Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
* Tại thời điểm hiện tại:
- Về mặt y học: Tâm thần phân liệt thể đơn thuần tiến triển liên tục (F20.60). Đối tượng cần được điều trị ngoại trú.
- Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi”.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại Hà Ngọc D kê khai chi phí mai táng và cấp cứu hết 143.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 80.000.000 đồng, tổng cộng 223.000.000 đồng. Phía gia đình bị cáo đã bồi thường được 37.000.000 đồng, số tiền còn lại chưa bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKS-P1 ngày 13/12/2018, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố Lê Viết Th về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Viết Th từ 17 năm đến 18 năm tù, buộc bị cáo phải bồi thường các chi phí hợp lý cho bị hại.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Viết Th thống nhất với quan điểm truy tố cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự mà Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Lê Viết Th không khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đại diện hợp pháp của bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát, Thẩm phán, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
Xét về hành vi phạm tội của bị cáo Lê Viết Th, có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 20/8/2018, sau khi chôn cất ông Lê Viết Tuấn xong, bà Nguyễn Thị H (vợ ông T) cùng một số bà con trở về nhà tại địa chỉ 3/6/23 đường NL, phường TT, thành phố H để tiến hành cúng “An vị”. Sau khi ông Hà Ngọc D ngồi nói chuyện với bà Nguyễn Thị N và anh Võ Văn TH xong rồi đi ra đứng trước sân thì bất ngờ bị Lê Viết Th cầm 01 con dao dài 33 cm đi đến từ phía sau cắt một nhát vào cổ làm ông D ngã gục xuống nền xi măng. Sau khi gây án, Th cầm dao đứng ở góc sân nhà cười một mình, ông Nguyễn Văn D và anh Võ Văn TH đến tước được con dao trong tay Th, đồng thời báo Công an phường TT đến bắt giữ Th. Ông D bị Th cắt cổ gây sốc mất máu cấp nên đã chết trên đường đi cấp cứu.
Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 295/GĐ ngày 15/9/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận:
“ Nguyên nhân chết: Sốc mất máu cấp.
- Tổn thương gây chết: Vết đứt ¾ chu vi tĩnh mạch cảnh ngoài bên phải.
- Chiều hướng vết thương: Vết thương ở vùng cổ do vật mỏng, có lưỡi sắc gây ra theo chiều từ trái qua phải, từ trước ra sau, từ trên xuống dưới”.
Do đó, ông Hà Ngọc D chết là do Lê Viết Th dùng dao cắt vào cổ gây ra.
Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Lê Viết Th đã phạm vào tội Giết người được quy định tại khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự năm 2015 nên bản cáo trạng số 02/CT-VKS-P1 ngày 13/12/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo về tội Giết người là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đây là vụ án đặc biệt nghiêm trọng, hậu quả làm chết một người, giữa bị cáo và bị hại Hà Ngọc D không có mâu thuẫn gì từ trước nhưng bị cáo đã vô cớ giết chết ông D nên đã phạm vào tình tiết định khung hình phạt là có tính chất côn đồ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ Luật hình sự năm 2015. Hành vi của bị cáo gây ra thể hiện sự lạnh lùng, coi thường tính mạng của người khác và bất chấp pháp luật, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, trị an xã hội; gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải có một hình phạt thích đáng nhằm trừng trị, răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bản thân bị cáo chưa có tiền án. Gia đình bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản tiền sau:
- Chi phí xe cứu thương:
2.000.000 đồng.
- Chi phí mai táng:
76.000.000 đồng.
- Chi phí xây lăng mộ:
65.000.000 đồng.
- Khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần: 80.000.000 đồng.
Tổng cộng là 223.000.000 đồng. Gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 37.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy:
- Các khoản chi phí xe cứu thương, chi phí mai táng là đúng thực tế, phù hợp mức chi phí mai táng trung bình tại địa phương, đúng quy định của pháp luật cần chấp nhận.
- Về khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần: Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây đau buồn, thương tiếc, tổn thương tinh thần rất lớn đối với gia đình của người bị hại. Phía gia đình của người bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho vợ và các con của bị hại. Yêu cầu của đại diện hợp pháp của người bị hại là chính đáng, hợp lý, đúng quy định của pháp luật, cần được chấp nhận. Buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị L và các con khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần với mức 80.000.000 đồng là đúng quy định pháp luật.
- Về chi phí xây lăng mộ: pháp luật không quy định buộc bị cáo phải bồi thường khoản tiền xây lăng mộ cho người bị hại. Đại diện hợp pháp của bị cáo không đồng ý bồi thường khoản tiền này. Do vậy, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của đại diện hợp pháp của người bị hại về khoản tiền này.
Tổng cộng, bị cáo phải bồi thường 158.000.000 đồng. Gia đình của bị cáo đã bồi thường 37.000.000 đồng. Bị cáo còn phải bồi thường 121.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Các vật chứng được thu giữ trong vụ án cần được tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Lê Viết Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Viết Th phạm tội Giết người.
2. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt:
Bị cáo Lê Viết Th 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam 23/8/2018.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585 và 591 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Buộc bị cáo Lê Viết Th phải bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Hà Ngọc D số tiền 121.000.000 đồng (Một trăm hai mươi mốt triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chưa bồi thường xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 con dao bản dài 33 cm, loại dao có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại, mũi dao bằng;
- 01 dây thắt lưng màu đen có ghi chữ FASHION;
- 01 dây thắt lưng màu nâu có ghi chữ GIORGIO ARMANI;
- 01 chiếc áo tang màu trắng đã bị rách;
- Mẫu máu ghi thu của Lê Viết Th;
- Mẫu máu ghi thu của nạn nhân Hà Ngọc D;
- Chất màu nâu đỏ ghi thu tại lòng tay Lê Viết Th.
Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/12/2018 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế và Cục thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế.
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Viết Th phải chịu 200.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Viết Th phải chịu 5% x 121.000.000 đồng = 6.050.000 đồng.
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh TT - Huế; - Phòng PV06 CA tỉnh TT - Huế; - Trại tạm giam CA tỉnh TT - Huế; - Sở Tư pháp; - Cục THADS tỉnh TT - Huế; - Bị cáo;các đương sự; - Lưu HSVA, HCTP. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Lộc |