- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn V - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phan Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2019/HS-ST Ngày 10-6-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HN, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Trần Văn Hướng;
2.Ông Pham Thủy Nông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 05 và 10 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã HN, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2019/TLST-HS, ngày 03 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2019/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:
Phan Văn V, sinh năm 1987 tại Đồng Tháp; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm 5, phường AT, thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh nhà trọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông: Phan Văn N, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị U, sinh năm 1958; Vợ: Ngô Thị Cẩm V, sinh năm 1989; Con: Phan Thị Cẩm Th, sinh năm 2008; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Tạm giữ: Không; Tạm giam: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Trịnh Kim NG, sinh năm 1988 (có mặt);
Nơi cư trú: Ấp An Lợi, xã ABA, thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngô Thị Cẩm Vân, sinh năm 1989 (có mặt);
Nơi cư trú: Khóm 5, phường AT, thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng:
1. Huỳnh Thị Hồng Q, sinh năm 1994 (có mặt);
Nơi cư trú: Khóm 2, phường AT,thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp.
2. Huỳnh Văn S (tên gọi khác: Na), sinh năm 1978 (có mặt);
Nơi cư trú: Ấp Bắc Trang 1, xã TCC, huyện TH, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 08 tháng 12 năm 2018, Trịnh Kim NG trong người đã có uống rượu, đi đến nhà cha vợ của Phan Văn V (ông Ngô Hùng Dũng) tại khóm 2, phường AT, thị xã HN, Đồng Tháp, mục đích gặp V hỏi chuyện về mâu thuẩn giữa V với Huỳnh Văn S (tên thường gọi là Na, S với NG có quan hệ bà con) vì trước đây V và S có có xảy ra mâu thuẫn với nhau, nhưng không gặp V, mà gặp Ngô Thị Cẩm Vân (vợ của V). Tại đây, giữa NG và chị Vân xảy ra cãi vã, to tiếng với nhau, NG có lời lẽ thách thức đánh nhau với vợ chồng V. Lúc này Phan Văn V đang ở trong nhà nghe Vân và NG lớn tiếng với nhau nên đi ra gặp NG, thì giữa V và NG cự cải nhau và V đuổi NG về, NG về đứng trước cửa nhà cha vợ của NG là ông Huỳnh Văn Pha (cách nhà cha vợ V 07 m) tiếp tục có lời lẽ thách thức đánh nhau với V, đồng thời có lời lẽ hăm dọa đối với gia đình V. Do bị thách thức và bị hăm dọa, nên V tức giận, chạy vào trong nhà cha vợ V lấy 01 con dao tự chế, chiều dài khoảng 50 cm, cán bằng gỗ màu nâu dài 10 cm, lưỡi dao bằng kim loại bén (con dao do V nhặt được trên đường trước đó) (lúc này con dao còn để trong vỏ) cầm trên tay phải chạy lại chổ NG đứng, giữa NG và V tiếp tục cự cãi với nhau, thì NG lấy đồ hốt rác có cán bằng gỗ vuông, dài khoảng 50-60 cm, máng bằng kim loại rộng 30-35 cm, đánh V 01 cái,V giơ tay trái lên đỡ thì bị trúng vào vùng mặt và tay trái của V chảy máu, lúc này V rút con dao ra khỏi vỏ, cầm dao bằng tay phải chém 01 (một) nhát theo hướng từ trên xuống , NG lấy đồ hốt rác đang cầm trên tay đỡ và bị trúng vào bàn tay phải NG làm đứt lìa ngón cái, chị Vân chạy vào can ngăn. Trịnh Kim NG bị thương được mọi người xung quanh đưa đến Bệnh viện đa khoa khu vực HN sơ cấp cứu vết thương đến ngày 10/12/2018 thì ra viện.
Ngày 03/01/2019, Trịnh Kim NG có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Phan Văn V về hành vi Cố ý gây thương tích.
Tại bản kết luận Giám định pháp y về thương tích số: 35/TgT ngày 31/01/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp kết luận:
- Sẹo vết thương phần mềm lòng bàn tay phải;
- Mất đốt xa và một phần đốt gần ngón 1 bàn tay phải đã tạo mổm cụt.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trịnh Kim NG tại thời điểm giám định là 13%. Cơ chế hình thành tổn thương trên đối diện trực tiếp; chiều hướng tác động từ ngoài vào, từ trên xuống; do vật sắc tác động gây nên thương tích.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Phan Văn V thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đối với thương tích của Phan Văn V bị NG gây ra, thì V không yêu cầu giám định và không yêu cầu xử lý hình sự.
Về vật chứng: Sau khi thấy V dùng dao chém gây thương tích cho NG, chị Ngô Thị Cẩm Vân (vợ của V) vào can ngăn và lấy dao vứt bỏ xuống kênh thuộc khóm 5, phường AT. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm thấy. Đối với đồ hốt rác mà bị hại Trịnh Kim NG dùng để đánh bị cáo Phan Văn V, cơ quan điểu tra cũng đã tiếp hành truy tìm nhưng không tìm được.
Về dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Phan Văn V đã tự nguyện bồi thường chi phí điều trị thương tích cho bị hại Trịnh Kim NG các khoản với số tiền 42.000.000 đồng. Bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường, đồng thời có đơn yêu cầu không khởi tố hình sự đối với Phan Văn V.
Tại bản cáo trạng số: 11/CT-VKS-HS, ngày 03 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN, truy tố bị cáo Phan Văn V về tội “Cố ý gây thương tích" theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết quả khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Bị hại Trịnh Kim NG yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Về trách nhiệm dân sự, trong giai đoạn điều tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại sức khỏe các khoản cho anh với số tiền là 42.000.000đồng, anh đã nhận tiền bồi thường xong, nay anh không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Phan Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, nên Viện kiểm sát giữ y quyết định truy tố bị cáo Phan Văn V về tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn V từ 02 năm đến 03 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm; Về vật chứng vụ án: Đối với con dao mà bị cáo Phan Văn V dùng để gây thương tích anh NG, trong giai đoạn điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã HN đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm được, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý; Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong, tại phiên tòa không phát sinh gì thêm nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
Bị cáo Phan Văn V thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xử cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên,Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Phan Văn V là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, xuất phát từ việc bị hại Trịnh Kim NG đến nhà có hành vi gây gỗ, thách thức đánh nhau và hăm dọa đối với gia đình bị cáo, đồng thời bị bị hại dùng đồ hốt rác có cán bằng gỗ vuông, máng bằng kim loại đánh trước, do bị cáo không kiềm chế được bản thân, nên đã có hành vi dùng con dao tự chế bằng kim loại là hung khí nguy hiểm chém gây thương tích anh NG.
Căn cứ vào lời thừa nhận của bị cáo cùng với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Căn cứ Bản kết luận Giám định pháp y về thương tích số: 35/TgT ngày 31/01/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp, kết luận thương tích của anh Trịnh Kim NG như sau:
- Sẹo vết thương phần mềm lòng bàn tay phải;
- Mất đốt xa và một phần đốt gần ngón 1 bàn tay phải đã tạo mổm cụt.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trịnh Kim NG tại thời điểm giám định là 13%. Cơ chế hình thành tổn thương trên đối diện trực tiếp; chiều hướng tác động từ ngoài vào, từ trên xuống; do vật sắc tác động gây nên thương tích.
Như vậy, đã đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Phan Văn V đã phạm tội:“Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát thị xã HN.
Điều 134. Tội Cố ý gây thƣơng tích.
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người.
…………………………………………………
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
a) ..........................................................................................
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.”
Hành vi phạm tội của Phan Văn V là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Bản thân bị cáo chỉ vì mâu thuẩn nhỏ trong cuộc sống hàng ngày mà bị cáo không kiềm chế được, đã sử dụng con dao tự chế có lưỡi bằng kim loại là hung khí nguy hiểm chém anh NG gây thương tích. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên phải xử lý nghiêm để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiêm hình sự:
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo hanh vi phạm tội mà mình thực hiện (điểm s); đã khắc phục xong hậu quả do hành vi phạm tội gây ra (điểm b) và 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; có một phần lỗi của người bị hại (đã có hành vi thách thức và đánh bị cáo trước, trong khi giữa bị cáo với bị hại không có mâu thuẩn); Bị cáo thuộc diện gia đình có công cách mạng (có cha là bộ đội phục viên, có ông Nội được Chính phủ tặng Bằng khen vì có công trong thời kỳ chống mỹ cứu nước, có bác ruột là liệt sỹ).
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần bắt bị cáo cách ly ra khởi đời sống xã hội, mà căn cứ Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện để giúp cho bị cáo trở thành một công dân tốt có ích cho gia đình và cho xã hội.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với con dao tự chế có lưỡi bằng kim loại mà bị cáo Phan Văn V sử dụng làm hung khí gây thương cho anh NG, sau khi gây thương tích xong, vợ của bị cáo là chị Ngô Thị Cẩm Vân đem vứt bỏ xuống sông và đồ hốt rác có cán bằng gỗ, máng bằng kim loại mà bị hại Trịnh Kim NG dùng để đánh bị cáo Phan Văn V, trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Về trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình điều tra, bị hại Trịnh Kim NG yêu cầu bị cáo Phan Văn V bồi thường thiệt hại sức khỏe gồm các khoản với số tiền 42.000.000đồng, bị cáo V đã bồi thường xong, anh NG đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu gì khác, tại phiên tòa không phát sinh gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Phan Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Văn V 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04(Bốn) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 10/6/2019).
Giao bị cáo Phan Văn V cho Ủy ban nhân dân phường AT, thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phan Văn V phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/6/2019).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND TX. HN; - Cơ quan THA HS Công anTX. HN; - Cơ quan Điều tra Công an TX. HN; - Bị cáo: Phan Văn V; - Những người tham gia tố tụng khác; - UBND phường AT; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Thống |