vanban.org

Bản án 11/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tuyên án 26/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Mạc Văn C và Dƣơng Thành Đ phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Xử phạt bị cáo Mạc Văn C 33 (Ba mươi ba) tháng tù, tổng hợp hình phạt 23 (hai mƣơi ba) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại bản án hình sự sơ thẩm số 68/HS-ST ngày 27-11-2018 của TAND huyện Tứ Kỳ. Buộc Mạc Văn C phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 56 (Năm mươi sáu) tháng tù, thời hạn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mạc Văn C và đồng bọn - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Mạc Văn C và Dƣơng Thành Đ phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2019/HS-ST
Ngày 26-3-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đình Đồng và bà Nguyễn Thị Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiên - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2019/HSST ngày 27-02-2019, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 11/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Mạc Văn C, sinh năm 1984, tại xã T, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mạc Văn C và bà Lê Thị C (đều đã chết), có vợ là Nguyễn Thị L và 03 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Năm 2000, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào trƣờng giáo dƣỡng; năm 2007 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; tại Bản án số 12/2009/HSST ngày 17/4/2009, TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chấp hành xong bản án ngày 02/9/2009); tại Bản án số 23/2013/HSST ngày 09/4/2013, TAND huyện Văn Lâm, tỉnh Hƣng Yên xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong bản án ngày 23/4/2014; tại Bản án số 68/2018/HS-ST ngày 27-11-2018, TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt 23 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tính từ ngày 27/8/2018.

Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Công an tỉnh Hải Dƣơng trong vụ án khác, có mặt.

2. Dƣơng Thành Đ, sinh năm 1998, tại xã K, huyện T, TP Hải Phòng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn N, xã K, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dƣơng Văn C và bà Ngô Thị H, chƣa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: tại Bản án số 68/2018/HS-ST ngày 27-11-2018, TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt 19 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tính từ ngày 24/8/2018.

Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Công an tỉnh Hải Dƣơng trong vụ án khác, có mặt.

- Người bị hại:

+ Anh Dƣơng Khắc L, sinh năm 1988;

Trú tại: thôn Hàm Cách, xã Hà Thanh, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

Đơn vị công tác: Công an huyện T, tỉnh Hải Dƣơng, đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Vũ Văn C, sinh năm 1989.

Trú tại: thôn R, xã T, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng

2. Anh Phạm Thanh P, sinh năm 1984.

3. Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1980

Đều công tác: Công an huyện T, tỉnh Hải Dƣơng.

4. Anh Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1995.

Trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

Đơn vị công tác: Công an huyện T, tỉnh Hải Dƣơng, đề nghị xét xử vắng mặt.

5. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1989

Trú tại: thôn H, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

6. Chị Đàm Thị Thúy T, sinh năm 1986

Trú tại: thôn M, xã V, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

7. Bà Ngô Thị H, sinh năm 1969

Trú tại: thôn N, xã K, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng

Có mặt bà H, vắng mặt anh C, anh P, anh G, anh Đ, chị N, chị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Đêm ngày 19, rạng sáng ngày 20/7/2018, Dƣơng Thành Đ, Vũ Văn Ch đến nhà Mạc Văn C chơi, đến khoảng 01 giờ cùng ngày, cả ba rủ nhau sang địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng để trộm cắp tài sản. Ch vào nhà Ch lấy 01 kìm thủy lực, 01 sà cầy để tại xe máy Sirius, biển số 15H1-169.62 của C, còn 01 thanh kiếm, 02 thanh đao tự chế cho vào bao da mầu đen để tại sƣờn xe máy Wave mầu xanh, biển số 17B3-060.05. C, Đ, Ch không bàn bạc, phân công nhiệm vụ cho từng ngƣời mà các bị cáo tự xác định mục đích mang đao, kiếm; trong đó: C, Đ tự xác định mang đao, kiếm đi trộm cắp tài sản, nếu bị ngƣời dân hay lực lƣợng chức năng phát hiện, truy đuổi thì sẽ đe doạ, chống trả đánh lại để chạy thoát, còn Ch nhận thức mang đi nếu chủ tài sản phát hiện thì sẽ dùng để đe doạ, chống trả để chạy thoát. Sau đó Ch điều kiển xe máy Sirius, Đ điều khiển xe máy Wave mầu xanh chở C phía sau đi sang huyện Tứ Kỳ. Khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, C và đồng bọn đang đi trên đƣờng 391 thuộc địa phận thôn M, xã V, huyện Tứ Kỳ phát hiện thấy một nhà dân khóa cửa bên ngoài, cả nhóm quay xe lại dừng xe bên phải đƣờng hƣớng Hải Dƣơng- Quý Cao, C xuống xe dùng đèn pin soi để quan sát mục đích vào trộm cắp tài sản thì gặp tổ công tác của Công an huyện T đang tuần tra phòng chống tội phạm trên tuyến đƣờng 391 theo kế hoạch số 961 ngày 27/6/2018 của Công an huyện T, gồm các anh Dƣơng Khắc L điều khiển xe máy Honda Wave biển số 34P9-7206 chở anh Phạm Thanh P (tổ trƣởng), anh Nguyễn Đình Đ điều khiển xe máy Honda Dream, biển số 34M6-0048 chở anh Nguyễn Văn G (tất cả đều mặc sắc phục công an). Tổ công tác phát hiện thấy Mạc Văn C và đồng bọn có biểu hiện nghi vấn nên anh L điều khiển xe máy áp sát xe máy của Đ để kiểm tra, khi đó, C, Đ đều xác định rõ là lực lƣợng Công an tuần tra thì C rút 01 thanh kiếm, phần đuôi quấn băng dính mầu đỏ cầm trên tay đồng thời hô "lấy đồ ra". Nghe vậy, Đ rút từ bao da ở sƣờn xe 01 thanh đao bằng kim loại, chuôi đao bằng gỗ quấn kim loại màu đồng cầm trên tay, C dùng kiếm chém một nhát từ trên xuống trúng vào ngón giữa bàn tay phải anh L đang cầm tay lái xe, làm đứt gân duỗi ngón III bàn tay phải, anh L lùi lại làm đổ xe. C, Đ tiếp tục dùng kiếm, đao chém về phía tổ tuần tra, tổ tuần tra phải lùi sang bên kia đƣờng và bắn chỉ thiên, C quay lại rút chìa khoá xe máy của anh L, Đ dùng đao chém thủng săm, lốp bánh trƣớc xe máy Honda Dream của anh Nguyễn Đình Đ. Sau đó Đ lên xe chở C, cùng Ch đi theo sau về hƣớng thị trấn Tứ Kỳ để về nhà, trong lúc bỏ chạy, C đã vứt chiếc chìa khóa xe máy của anh L trên đƣờng. Anh L bị thƣơng phải đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dƣơng từ ngày 20/7/2018 đến ngày 27/7/2018 ra viện. Rạng sáng ngày 18/8/2018, tổ tuần tra Công an huyện T tuần tra trên tuyến đƣờng tỉnh lộ 391, đến địa phận xã N, huyện Tứ Kỳ phát hiện Dƣơng Thành Đ, Mạc Văn C đang điều khiển xe máy đi trên đƣờng, tổ công tác yêu cầu dừng xe để kiểm tra, thấy vậy C bỏ chạy thoát, còn Đ đƣợc đƣa về Công an huyện T để làm việc. Tại đây, C đã khai ra hành vi dùng kiếm, đao chém gây thƣơng tích cho anh Dƣơng Khắc L rạng sáng ngày 20/7/2018 tại đƣờng 391 thuộc địa phận thôn M, xã V, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

Kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 202/TgT ngày 02/10/2018 của Phòng giám định pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dƣơng kết luận anh Dƣơng Khắc L bị đứt gân duỗi ngón III bàn tay phải (tổn thƣơng do vật sắc gây ra), bị tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 12%.

Tại kết luận định giá tài sản số 38 ngày 19/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản- Ủy ban nhân dân huyện Tứ Kỳ kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Dream, biển số 34M6-0048, bị hƣ hỏng thủng rách lốp và săm cao su bánh trƣớc không sử dụng đƣợc. Tại thời điểm ngày 20/7/2018 tài sản định giá có giá trị 310.000 đồng;

Tại bản Cáo trạng số: 11/CT-VKSTK ngày 20-02-2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố các bị cáo Mạc Văn C và Dƣơng Thành Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 56; Điều 38 BLHS đối với các bị cáo C và Đ; điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo C. Tuyên bố các bị cáo Mạc Văn C và Dƣơng Thành Đ phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”; Xử phạt Mạc Văn C từ 36 đến 39 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 23 (hai mƣơi ba) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại bản án hình sự sơ thẩm số 68/HS-ST ngày 27-11-2018 của TAND huyện Tứ Kỳ. Buộc Mạc Văn C phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là từ 59 đến 62 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/8/2018. Xử phạt Dƣơng Thành Đ từ 30 đến 33 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 19 (mƣời chín) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại bản án hình sự sơ thẩm số 68/HS-ST ngày 27-11-2018 của TAND huyện Tứ Kỳ. Buộc Dƣơng Thành Đ phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là từ 49 năm 52 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2018. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS, khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; Điều 587; khoản 1 Điều 590; Điều 357 BLDS 2015. Buộc các bị cáo phải liên đới bồi thƣờng cho anh Dƣơng Khắc L tổng số tiền 13.750.000 đồng (trừ số tiền gia đình hai bị cáo đã bồi thƣờng 5.000.000 đồng), các bị cáo còn phải liên đới bồi thƣờng 8.750.000 đồng.

Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố và luận tội của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại, những ngƣời làm chứng và kết quả giám định thƣơng tích cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ, ngày 20/7/2018, tại trục đƣờng 391 thuộc địa phận thôn M, xã V, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, tổ công tác của Công an huyện Tứ Kỳ gồm các anh Dƣơng Khắc L điều khiển xe Honda, biển số 34P9-7206 chở anh Phạm Thanh P (tổ trƣởng), anh Nguyễn Đình Đ điều khiển xe máy Honda Dream, biển số 34M6-0048 chở anh Nguyễn Văn G đang tuần tra, phòng chống tội phạm trên tuyến đƣờng 391 theo kế hoạch. Do nghi vấn Mạc Văn C, Dƣơng Thành Đ và Vũ Văn Ch có hành vi vi phạm pháp luật, anh L cùng tổ công tác tiến hành kiểm tra thì bị Mạc Văn C hô đồng bọn "lấy đồ ra", C rút kiếm bằng kim loại chém vào ngón giữa bàn tay phải của anh L, Dƣơng Thành Đ rút đao cùng C giơ lên chém về phía tổ tuần tra làm cho tổ tuần tra phải bỏ xe lại, lùi sang bên kia đƣờng, sau đó C quay lại rút chìa khoá xe của anh L, Đ dùng đao chém thủng săm, lốp xe bánh trƣớc của anh Nguyễn Đình Đ. Hậu quả, làm anh L đứt gân duỗi ngón III bàn tay phải, tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây lên là 12%. Các bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc việc xâm phạm đến sức khỏe của ngƣời khác là trái pháp luật nhƣng vẫn thực hiện đã cấu thành tội “Cố ý gây thƣơng tích” tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Do các bị cáo dùng kiếm, đao bằng kim loại là “hung khí nguy hiểm” chém gây thƣơng tích cho anh L và trƣớc khi gây thƣơng tích cho anh L, các bị cáo biết rõ anh L và các đồng chí khác mặc sắc phục công an, là ngƣời đang thi hành công vụ nhƣng vẫn dùng kiếm, đao chém nhằm mục đích để anh L và đội công tác không thực hiện đƣợc nhiệm vụ kiểm tra thuộc trƣờng hợp "Đối với ngƣời đang thi hành công vụ" quy định tại điểm a, k khoản 1 Điều 134 BLHS nên các bị cáo C, Đ phải chịu tình tiết định khung theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của BLHS, nhƣ quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khoẻ của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ, thể hiện sự liều lĩnh, coi thƣờng pháp luật, gây ảnh hƣởng xấu đến trật tự an ninh trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong nhân dân. Do vậy, cần xem xét xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó Mạc Văn C là ngƣời khởi xƣớng, hô đồng bọn rút đồ ra và trực tiếp dùng kiếm chém gây thƣơng tích cho anh L nên giữ vai trò chính trong vụ án. Mặc dù không trực tiếp gây thƣơng tích cho anh L. Tuy nhiên khi chuẩn bị hung khí đi trộm cắp tài sản, Dƣơng Thành Đ đã tự thống nhất ý chí với C về mục đích mang hung khí đi nếu gặp ngƣời dân hoặc lực lƣợng chức năng thì sẽ sử dụng để đe dọa, đánh chống trả để chạy thoát, sau khi nghe C hô "lấy đồ ra", Đ đã rút đao chém về phía lực lƣợng chức năng, chọc thủng lốp, săm xe máy của anh Nguyễn Đình Đ nên là ngƣời giúp sức và giữ vai trò sau Ch.

Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của các bị cáo thấy rằng: Các bị cáo C, Đ đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo C đã nhiều lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính và nhiều lần bị kết án, tuy đã chấp hành xong hình phạt và đƣơng nhiên đƣợc xoá án tích nhƣng trƣớc khi thực hiện hành vi phạm tội bị xét xử trong vụ án này, các bị cáo C, Đ còn có hành vi Trộm cắp tài sản trên địa bàn xã Đ, huyện Tứ Kỳ và bị TAND huyện Tứ Kỳ kết án Mạc Văn C 23 tháng tù, Dƣơng Thành Đ 19 tháng tù, tại bản án hình sự thẩm số 68/2018/HS-ST ngày 27/11/2018. Do cùng thời thiểm bị cáo thực hiện nhiều hành vi tội phạm khác nhau trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, hành vi phát hiện trƣớc đƣợc xét xử trƣớc, hành vi phát hiện sau đƣợc xét xử sau nên lần phạm tội này, các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm”. nhƣng điều đó chứng tỏ các bị cáo là ngƣời có nhân thân không tốt. Do vậy, cần phải có mức hình phạt tƣơng xứng với nhân thân, tính chất hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra.

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo không có tài sản và đã tác động để gia đình bồi thƣờng một phần khắc phục hậu quả cho ngƣời bị hại và các bị cáo gây thƣơng tích với tỷ lệ % thuộc khoản 1 Điều 134 BLHS, nhƣng do các bị cáo đã bị xét xử ở khoản 2 Điều 134 BLHS nên thuộc trƣờng hợp phạm tội nhƣng gây thiệt hại không lớn nên đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Trong quá trình bị điều tra về hành vi Trộm cắp tài sản, C đã tự mình khai ra hành vi gây thƣơng tích cho anh L mà chƣa bị phát hiện nên trong vụ án này bị cáo C còn đƣợc hƣởng thêm tình tiết ngƣời phạm tội “tự thú” quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS; Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, song căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo, vẫn cần thiết buộc các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng các bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội. Do đến nay, bản án hình sự sơ thẩm số 68/2018/HS-ST ngày 27/11/2018 của TAND huyện Tứ Kỳ đã có hiệu lực pháp luật và đã ra Quyết định thi hành án hình phạt tù, nên cần tổng hợp hình phạt của bản án trên với hình phạt của bản án mới, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định tại Điều 56 BLHS.

Đối với Vũ Văn C có hành vi chuẩn bị 01 thanh kiếm, 02 thanh đao tự chế cho vào bao da mầu đen để tại sƣờn xe máy Wave mầu xanh biển số 17B3-060.05 do Đ điều khiển chở C để sang địa bàn huyện Tứ Kỳ để trộm cắp tài sản và sau đó C đã sử dụng kiếm, Đ đã sử dụng đao để gây thƣơng tích cho anh L. Tuy nhiên trƣớc khi đi, C, Đ và Ch không bàn bạc, phân công mục đích mang các công cụ đó để làm gì và sử dụng nhƣ thế nào, mà Đ, C, Ch tự nhận thức; trong đó C, Đ nhận thức mang các công cụ đó đi trộm cắp tài sản nếu bị ngƣời dân hay lực lƣợng chức năng truy đuổi thì Đ, C sẽ sử dụng đao kiếm để đe doạ, đánh chống trả nhằm chạy thoát. Còn Ch chỉ tự xác định mục đích mang đao kiếm đi trộm cắp nếu gặp ngƣời dân truy đuổi thì sẽ đe doạ, chống trả để chạy thoát. Thực tế sau khi bị đội tuần tra Công an huyện Tứ Kỳ áp sát xe Đ chở C và xe của Ch, C có nói “lấy đồ ra”, nhƣng Ch không có hành động, lời nói gì giúp sức cho C nên Ch không đồng phạm với C và Đ và không phải chịu trách nhiệm.

Trong vụ án này, Dƣơng Thành Đ có hành vi chém thủng lốp, săm xe của anh Nguyễn Đình Đ, tuy nhiên giá trị không lớn nên chƣa đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý làm hƣ hỏng tài sản", Công an huyện Tứ Kỳ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23 ngày 28/12/2018 đối với Đ là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Dƣơng Khắc L yêu cầu các bị cáo bồi thƣờng các khoản chi phí tiền mua thuốc, thuê ngƣời thay băng, rửa vết thƣơng sau khi ra viện, tiền bù đắp tổn thất về tinh thần, thu nhập thực tế của ngƣời chăm sóc, tổng cộng tất cả các khoản là 13.750.000 đồng, trong đó gia đình các bị cáo đã bồi thƣờng 5.000.000 đồng, còn phải bồi thƣờng 8.750.000 đồng. Các bị cáo nhất trí bồi thƣờng, xét thấy đây là thỏa thuận giữa anh L và các bị cáo, cần chấp nhận. Buộc các bị cáo phải liên đới bồi thƣờng số tiền 8.750.000 đồng cho ngƣời bị hại. Trách nhiệm theo phần: bị cáo C phải bồi thƣờng 5.500.000 đồng, bị cáo Đ phải bồi thƣờng 3.250.000 đồng.

Đối với hành vi của Dƣơng Thành Đ dùng dao chém thủng săm, lốp xe máy biển số 34M6-0048 của anh Nguyễn Đình Đ, ngày 04/01/2019 bà Ngô Thị H là mẹ của bị cáo Dƣơng Thành Đ đã bồi thƣờng chi phí, sửa chữa xong cho anh Đ, anh Đ không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

Về vật chứng: Đối với 01 xe máy Wave anpha biển số 17B3-060.05 mà Đ và C sử dụng vào việc phạm tội, đây là tang vật của vụ án trộm cắp tài sản xẩy ra tại huyện T, tỉnh Thái Bình. Ngày 13/11/2018, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Tứ Kỳ đã bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình để giải quyết theo thẩm quyền; đối với 02 thanh đao, 01 thanh kiếm bằng kim loại đã đƣợc xử lý tại bản án hình sự thẩm số 68/HS-ST ngày 27-11-2018 của TAND huyện Tứ Kỳ nên không đặt ra việc giải quyết.

Về án phí: Các bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo C và Đ; điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo C.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Mạc Văn C và Dƣơng Thành Đ phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Xử phạt bị cáo Mạc Văn C 33 (Ba mươi ba) tháng tù, tổng hợp hình phạt 23 (hai mƣơi ba) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại bản án hình sự sơ thẩm số 68/HS-ST ngày 27-11-2018 của TAND huyện Tứ Kỳ. Buộc Mạc Văn C phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 56 (Năm mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/8/2018.

Xử phạt bị cáo Dƣơng Thành Đ 30 (Ba mươi) tháng tù, tổng hợp hình phạt 19 (mƣời chín) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại bản án hình sự sơ thẩm số 68/HS-ST ngày 27-11-2018 của TAND huyện Tứ Kỳ. Buộc Dƣơng Thành Đ phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 49 (Bốn mươi chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2018.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS, khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; Điều 587, khoản 1 Điều 590; Điều 357 BLDS 2015.

Buộc các bị cáo Mạc Văn C và Dƣơng Thành Đ phải liên đới bồi thƣờng cho anh Dƣơng Khắc L tổng số tiền 13.750.000 đồng (các bị cáo đã bồi thƣờng 5.000.000 đồng), còn phải bồi thƣờng số tiền 8.750.000 đồng. Chia theo phần: bị cáo C bồi thƣờng 5.500.000 đồng, bị cáo Đ bồi thƣờng 3.250.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, anh L có đơn yêu cầu thi hành án mà các bị cáo C, Đ chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án. Các bị cáo Mạc Văn C và Dƣơng Thành Đ, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngƣời bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ