vanban.org

Bản án 11/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 24/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/- Tu ên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2/- Xử phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồng N 01 một năm tù. Thời hạn tù tính từ ng y tạm giữ ng y 29 11 2018. 3/ Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Hồng N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/- Tu ên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁP MƯỜI
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2019/HS-ST
Ngày: 24-4-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: 1- Ông Lê V n V ng

2- Ông Ngu n Tuấn Anh

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phạm Thị Thi – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Tuấn Kiệt – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án Huyện, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2019 v Quyết định ho n phiên tòa số 05 2019 HSST-QĐ ng y 10 tháng 4 năm 2019, đối với bị cáo:

Họ v tên: Ngu n Hồng N, sinh năm 1993; nơi cư trú khóm 1, thị trấn MA, huyện X, Đồng Tháp; nghề nghiệp làm thuê; trình độ văn hóa 07/12; dân tộc kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1948 (còn sống) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1952 (đ chết); có vợ tên Lê Thị P, sinh năm 1976 không đăng ký kết hôn v có 01 người con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự không; nhân thân: Ng y 24 9 2012, bị Tòa án tỉnh Đồng Tháp xử phạt 05 năm tù về tội “Giết người”, đến ng y 31 8 2015 được đặc xá; tạm giữ ng y 29 11 2018; tạm giam ng y 07 12 2018; bị cáo đang bị tạm giam v có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

Ngu n V n Đ

- sinh năm: 1971 v ng mặt .

Địa chỉ: Ấp 4, x MĐ, huyện X, Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Trần V n L

- sinh năm: 1952 Có đơn xin xét xử v ng mặt .

Địa chỉ: Khóm 2, thị trấn MA, huyện X, Đồng Tháp.

Người làm chứng:

Ngu n Thị G

- sinh năm: 1964 có mặt

Địa chỉ: Ấp MT 2, xã MQ, huyện X, Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

V o khoảng 07 giờ 30 phút ng y 22 8 2018, ông Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô nh n hiệu WAND, m u đỏ, biển kiểm soát 66M1-348.36 đi từ nh của mình địa chỉ ấp 4, x MĐ, huyện X) đến phần đất của ông Đặng Ho ng D tại ấp 4, x MĐ để đi ra ruộng b t cá. Đến khoảng 09 giờ cùng ng y, ông Đ phát hiện xe mô tô của mình bị mất trộm nên đến Công an x Mỹ Đông trình báo, Công an x bố trí lực lượng v tổ chức truy tìm. Do Nguyễn Hồng N l đối tượng nhiều nghi vấn liên quan đến việc lấy trộm xe mô tô của ông Đ, nên khoảng 11 giờ cùng ng y, Công an x Mỹ Đông đến nh của ông Nguyễn Văn U tại ấp 5, x MĐ, l nơi N v vợ tên Nguyễn Thị P đang thuê ở để tìm N. Khi thấy lực lượng Công an đậu xe phía trước nh , thì bất ngờ N mở cửa v điều khiển xe mô tô lấy trộm được của ông Đ từ trong nh chạy về hướng thị trấn Mỹ An. Lực lượng Công an x Mỹ Đông kết hợp với Công an thị trấn Mỹ An tiến h nh truy đuổi, thì N điều khiển xe chạy đến đoạn đường thuộc phần đất của ông Trần Văn L ở khóm 2, thị trấn MA. N phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 66H3-0541, m u đỏ đen của ông L đậu cập lề đường, có g n chìa khóa trên xe, N dừng xe lại vì nghĩ rằng xe ông Đ s p hết xăng, nên bỏ xe mô tô của ông Đ bên lề đường, sau đó mở khóa nổ máy điều khiển xe mô tô của ông L chạy về hướng ấp MT 2, xã MQ, huyện X để trốn tránh lực lượng Công an đang rượt đuổi. N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66H3-0541 của ông L đến nh của b Nguyễn Thị G ở ấp MT 2, xã MQ, gửi xe cho bà G rồi đi đến th nh phố Cao L nh trốn. Đến chiều cùng ng y, N điện thoại cho anh Nguyễn Việt S là Công an viên thị trấn Mỹ An chỉ nơi gửi xe mô tô của ông L để Công an đến thu giữ.

Cùng ng y, qua khám xét đ thu giữ tại nơi N ở thuê một số phụ tùng xe bao gồm: 01 một biển kiểm soát xe số 66M1-348.36 bị nám m u đen, 02 (hai) miếng nhựa trong suốt bị đốt cháy xém; 02 (hai) khung viền bằng kim loại bị cháy nám đen; 01 (một) c n th ng xe bị g y. Ngày 29/11/2018, N bị b t giữ khi đang trú tại khóm Mỹ Hưng, phường 3, th nh phố Cao L nh.

Quá trình điều tra N khai: Nhạn quen một người bạn tên T không rõ họ tên địa chỉ cụ thể ở x Láng Biển khoảng 04 – 05 tháng trước, do đi đá g chung. V o khoảng 07 giờ 30 phút ng y 22 8 2018, T sử dụng xe mô tô Dream của T chở N cùng đi đến nh Nguyễn Văn E l bạn của N ở ấp 4, x Láng Biển, huyện Tháp Mười, để rủ E đi đá g nhưng không gặp được E. T điều khiển xe theo tuyến đường nhựa hướng từ x Láng Biển về x MĐ đến đoạn đường xe mô tô biển kiểm soát 66M1-348.36 của ông Đ đang đậu, T điều khiển xe dừng lại phía bên trái đường theo hướng di chuyển v lấy từ trong túi quần ra một chìa khóa xe kêu N đến mở khóa điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66M1-348.36 chạy xe về nh N thuê, thì T không vào nhà mà kêu N tháo hết tem xe ra rồi bỏ đi. N tháo hết tem xe ra, một lúc sau T quay lại v đưa cho N biển kiểm soát xe mô tô 71K1-9422 kêu N thay biển kiểm soát xe vừa chạy về rồi bỏ đi. Lúc n y, N nghi ngờ đây l xe m T lấy trộm của người khác, nhưng vì không có phương tiện đi lại nên thay đổi biển kiểm soát v một số bộ phận khác để sử dụng không bị người khác phát hiện. Khi Công an đến gọi cửa, N bỏ chạy vì sợ bị kiểm tra xét nghiệm ma túy do trước đó N có sử dụng ma túy đá. Kết quả xác minh thể hiện lời khai nại trên l ho n to n không có căn cứ. Việc lấy xe của ông L l để chạy trốn khỏi lực lượng Công an, N không có ý định chiếm đoạt xe n y, nên ngay sau khi chạy thoát N đ điện thoại cho anh S để trả lại cho chủ sở hữu.

Tại Bản Kết luận định giá t i sản số 47, ng y 25 9 2018 của Hội đồng định giá t i sản trong tố tụng hình sự huyện Tháp Mười kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu WAND, kiểu dáng Wave, m u đỏ, biển kiểm soát 66M1-348.36 của ông Nguyễn Văn Đ tại thời điểm bị mất trộm trị giá 2.500.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn Đ và ông Trần Văn L đ nhận lại xe v không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Về vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đ thu giữ:

- 01 một xe mô tô nh n hiệu Yamaha, loại xe Nouvo, m u đỏ đen, mang biển kiểm soát 66H3-0541, đ qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng của xe. Hiện đ trả lại cho ông L.

- 01 một xe mô tô nh n hiệu WAND, kiểu dáng Wave, m u đỏ g n biển kiểm soát 71K1-9422. Hiện đ trả lại xe không biển kiểm soát cho ông Đ.

- 01 một biển kiểm soát xe 66M1-348.36 bị nám m u đen hiện đ trả lại cho ông Đ); 02 (hai) miếng nhựa trong suốt bị đốt cháy xém; 02 (hai) khung viền bằng kim loại bị cháy nám đen; 01 (một) c n th ng xe bị g y.

Tại Bản Cáo trạng số 07/CT-VKSTM ngày 18 tháng 02 năm 2019 của Viện kiểm sát Huyện, đ truy tố bị cáo Nguyễn Hồng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi t t l Bộ luật hình sự năm 2015 .

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Vị đại diện Viện kiểm sát Huyện thực hiện quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, đ đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết tội đối với bị cáo. Sau khi phân tích h nh vi phạm tội, căn cứ nhân thân v các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về tội danh: Căn cứ Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồng N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Do ho n cảnh bị cáo khó khăn nên không đề nghị áp dụng.

+ Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn Đ và ông Trần Văn L đ nhận lại xe v không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không xem xét.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Tịch thu tiêu hủy: 01 một Biển kiểm soát 71K1-9422, 02 (hai) miếng nhựa trong suốt bị đốt cháy xém, 02 (hai) khung viền bằng kim loại bị cháy nám đen do không còn giá trị sử dụng; 01 (một) c n th ng xe bị g y do không còn giá trị sử dụng v tại phiên tòa bị cáo N không yêu cầu được nhận lại.

- Tại phiên tòa, bị cáo N khai: Bị cáo trực tiếp mở khóa lấy xe mô tô biển kiểm soát 66M1-348.36 của ông Đ, khi thực hiện h nh vi bị cáo không bị ai ép buộc hay xúi giục. Sau khi lấy trộm bị cáo chạy xe về nh bị cáo thuê, để che đậy h nh vi bị cáo tháo hết tem xe, thay đổi biển kiểm soát v một số bộ phận khác của xe để sử dụng phương tiện đi lại. Khi h nh vi bị phát hiện, bị cáo điều khiển xe mô tô của ông Đ chạy trốn thì bị lực lượng Công an truy đuổi. Trên đường tẩu thoát, bị cáo nghĩ xe của ông Đ gần hết xăng, nên bỏ lại xe v lấy xe mô tô biển kiểm soát 66H3-0541 của ông L để sử dụng l m phương tiện chạy trốn, bị cáo không có ý định chiếm đoạt xe n y. Ngay sau khi chạy thoát bị cáo đ điện thoại cho anh S để trả lại xe cho ông L.

- Người l m chứng b Nguyễn Thị G khai: Vào ngày 22/8/2018, bị cáo có đến nh b v gửi lại xe mô tô biển kiểm soát 66H3-0541, rồi bị cáo bỏ đi. Sau đó, Công an đ đến nh b thu giữ xe mô tô trên. B không biết xe n y do bị cáo lấy của người khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về h nh vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tháp Mười, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Tháp Mười, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử v tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng đ thực hiện điều hợp pháp.

Bị cáo N l người đ th nh niên, có đầy đủ sức khỏe, để lao động tạo ra của cải vật chất cho bản thân, gia đình v x hội, nhưng do bản chất lười lao động, muốn có nhiều tiền để phục vụ cho nhu cầu cá nhân, nên khi phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 66M1-348.36 của ông Đ không người trông coi, bị cáo đ lét lút thực hiện h nh vi chiếm đoạt xe mô tô của ông Đ, trị giá 2.500.000 đồng (theo Bản Kết luận định giá t i sản số 47, ng y 25 9 2018 của Hội đồng định giá t i sản trong tố tụng hình sự huyện Tháp Mười). Để che đậy h nh vi của mình, bị cáo đ thay đổi biển kiểm soát v một số bộ phận khác như tháo hết tem xe, thay đổi v nh xe…v.v. Đến khi bị phát hiện bị cáo cố tình trốn tránh sự truy đuổi của Cơ quan chức năng v trên đường tẩu thoát bị cáo bỏ lại xe lấy trộm của ông Đ v lấy xe mô tô biển kiểm soát 66H3-0541 của ông L để l m phương tiện trốn tránh lực lượng truy đuổi.

Đến khi bị b t, tại Cơ quan điều tra bị cáo không thừa nhận trực tiếp thực hiện h nh vi trộm c p. Việc bị cáo lấy xe của ông Đ l do T xúi giục. Nhưng tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận không có ai xúi giục v bị cáo trực tiếp thực hiện h nh vi phạm tội của mình theo như Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười truy tố.

Qua đó có đủ căn cứ chứng minh bị cáo N l có tội, tội phạm v hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:

“1. Người n o trộm c p t i sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a Đ bị xử phạt vi phạm h nh chính về h nh vi chiếm đoạt t i sản m còn vi phạm;

b Đ bị kết án về tội n y hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 v 290 của Bộ luật n y, chưa được xóa án tích m còn vi phạm;

c Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an to n x hội;

d T i sản l phương tiện kiếm sống chính của người bị hại v gia đình họ;

đ T i sản l di vật, cổ vật.”

H nh vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, chẳng những xâm phạm đến quyền sở hữu về t i sản của ông Đ, m còn l m ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay l cần thiết, cần cách ly bị cáo một thời gian nhất định, để bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở th nh công dân tốt v sống có ích cho x hội. Đồng thời, góp phần phòng ngừa trong to n x hội nói chung v tại địa phương huyện Tháp Mười nói riêng, do tình hình tội phạm liên quan đến sở hữu có chiều hướng ng y c ng gia tăng.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tình tiết “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt l phù hợp với điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại Nguyễn Văn Đ đ nhận lại t i sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không xem xét.

Ông Trần Văn L đ nhận lại xe mô tô biển kiểm soát 66H3-0541 không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không xem xét.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) miếng nhựa trong suốt bị đốt cháy xém, 02 (hai) khung viền bằng kim loại bị cháy nám đen do không còn giá trị sử dụng; 01 (một) c n th ng xe bị g y do không còn giá trị sử dụng v tại phiên tòa bị cáo N không yêu cầu được nhận lại.

Đối với biển kiểm soát xe mô tô 71K1-9422 xác định được đăng ký cho xe mô tô nh n hiệu Boss, người đứng tên xe l ông Nguyễn Văn G ở ấp 3, x TP, huyện CT, Bến Tre. Xe mô tô này ông G đ bán v o năm 2008 cho người không nhớ họ tên v địa chỉ cụ thể với giá l 6.000.000 đồng, khi bán không l m hợp đồng v Cơ quan điều tra đ truy tìm chủ sở hữu nhưng đến nay v n không có người đến nhận, do đó tịch thu tiêu hủy biển kiểm soát xe số 71K1-9422.

Hiện Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Tháp Mười đang quản lý vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng t i sản ng y 19/02/2019).

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 66H3-0541 của ông L, kết quả điều tra chứng minh được bị cáo N có h nh vi sử dụng trái phép chiếc xe n y để chạy trốn khi bị truy đuổi, sau khi chạy thoát đ không mang theo xe bỏ trốn m thông báo cho Công an trả lại xe cho chủ sở hữu, bị cáo N không có ý thức chiếm đoạt đối với xe mô tô n y, nên không đủ căn cứ xử lý h nh vi nêu trên về tội trộm c p t i sản l có căn cứ.

10 Về hình phạt bổ sung: Xét thấy ho n cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/- Tu ên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2/- Xử phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồng N 01 một năm tù. Thời hạn tù tính từ ng y tạm giữ ng y 29 11 2018.

3/ Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Tịch thu tiêu hủy: Biển kiểm soát 71K1-9422; 02 (hai) miếng nhựa trong suốt bị đốt cháy xém; 02 (hai) khung viền bằng kim loại bị cháy nám đen; 01 (một) c n th ng xe bị g y.

Hiện Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Tháp Mười đang quản lý vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng t i sản ng y 19 02 2019).

4/- Về án phí: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ng y 30 12 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Hồng N phải chịu 200.000 đồng hai trăm nghìn đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ng y, kể từ ng y tuyên án. Riêng, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan v ng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ng y, kể từ ng y nhận hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Cỡ chữ