- Tranh chấp gì? án hình sự — "Họ và tên: DƯƠNG VĂN T, sinh năm 1990 - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 191; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điểm b khoản 1 Điều 46; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/ 2019/HS-ST Ngày 31 - 01 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ích Yên;
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa:
Bà Ngô Diệu Thanh - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 01 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự áp dụng theo thủ tục rút gọn thụ lý số: 13/2019/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2019, đối với bị cáo:
Họ và tên: DƯƠNG VĂN T, sinh năm 1990
Nơi ĐKNKTT và nơi thường trú: Xóm M, xã H, thị xã P, tỉnh Thái Nguyên; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 07/12; Con ông: Dương Văn N – Đã chết và Con bà: Hà Thị M – Sinh năm 1958; Dương Thị L – Sinh năm: 1994; Có 02 con, con lớn sinh năm: 2013, con nhỏ sinh năm: 2016.
- Tiền án, Tiền sự: không.
Bị cáo Dương Văn T bị tạm giữ từ ngày 29/12/2018 đến ngày 01/01/2019. Hiện bị can đang được tại ngoại tại địa phương.
(Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 29/12/2018, Tổ công tác Công an huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tuần tra trên địa bàn khu công nghiệp Đ, huyện P thì phát hiện đối tượng Dương Văn T, sinh năm: 1990 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến tàng trữ hàng cấm. Tổ công tác đã tiếp cận yêu cầu kiểm tra và T đã tự giác giao nộp một bao tải dứa màu vàng bên trong có 100 quả pháo có kích thước đường kính 4cm, gắn liền với phần trụ tròn dài 03cm, đường kính 2,5cm và 02 hộp pháo có kích thước đều như nhau khoảng 15cm x 14,5cm, x14,5cm bên trong mỗi hộp có chứa 36 ống hình trụ tròn, theo T khai nhận đó là pháo hoa và pháo trứng của T. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng đưa T cùng vật chứng về trụ sở Công an để làm rõ.
Hồi 00 giờ 15 phút ngày 30/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Bình đã tiến hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với nhà ở, khu vực xung quanh nhà ở của Dương Văn T, phát hiện 37 quả pháo dạng tròn có trụ và dây dẫn màu xanh thu giữ trong nhà vệ sinh của Dương Văn T được niêm phong có kí hiệu A2.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 hình hộp lập phương, bên trong đều bọc giấy nilon màu đỏ có in chữ nước ngoài kích thước 14,5x14,5x15cm; 97 quả pháo có kích thước và đặc điểm hình cầu đường kính 4cm, gắn liền với phần trụ tròn 03cm, đường kính 2,5cm; 34 quả pháo có kích thước và đặc điểm hình cầu đường kính 4cm, gắn liền với phần trụ tròn 03cm, đường kính 2,5cm; 01 điện thoại di động OPPO F1S màu vàng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 20M3-8146; 01 bao tải màu vàng và số tiền 500.000đồng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản tiền gửi của Công an huyện Phú Bình chờ xử lý.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Bình đã tiến hành mở niêm lấy mẫu giám định. Ngày 07/01/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên đã có kết luận giám định số 230/KL-PC09 kết luận 01 hộp có kích thước 14,5cm x 14,5cm x15cm có kí hiệu M1 là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), 03 vật bóng đèn hình tròn phần trụ dài 3cm, đường kính 2,5cm có kí hiệu M2 là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), 03 vật bóng đèn có phần hình trụ dài, đường kính 2,5cm niêm phong có kí hiệu M3 là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 30/2019/QĐTT-VKSPB ngày 24 tháng 01 năm 2019 củaViện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Dương Văn T về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
- Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Dương Văn T từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xử lý vật chứng như sau:
Tịch thu tiều huỷ: 6,1 kg pháo nổ, đã niêm phong, để trong 01 thùng caston; KH: M4 bao gồm 01 hộp pháo giàn; 131 quả pháo trứng (Vật chứng trên hiện nay được gửi bảo quản tại Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên);
Trả lại cho bị cáo:
- 01 (Một) điện thoại di động OPPO F1S màu vàng có số imel 08579 mãy cũ đã qua sử dụng của Dương Văn T.
- 01(Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA BKS 20M3-8146 xe mầu đen, không có gương chiếu hậu cả hai bên, yếm bên phải bị vỡ, sô máy HC12E – 0274037, số khung RLHHG12028Y144255 xe cũ đã qua sử dụng
- Tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án đối với bị cáo Dương Văn T số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Nói lời sau cùng, bị cáo Dương Văn T xin Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà nhận định như sau:
Nhận định về thẩm quyền áp dụng thủ tục rút gọn: Vụ án được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Bình, Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân huyện Phú Bình áp dụng thủ tục rút gọn đã đảm bảo đủ đúng phạm vi, điều kiện, trình tự thủ tục, thời hạn theo quy định tại các Điều 455; 456; 457; 460; 461 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Dương Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Quyết định truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, kết luận giám định và lời khai của những người tham gia tố tụng khác.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định: tỉnh Thái Nguyên, xác định được như sau:
Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 29/12/2018, Tổ công tác Công an huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tuần tra thì phát hiện Dương Văn T đang tàng trữ một bao tải dứa màu vàng bên trong có 100 quả pháo có kích thước đường kính 4cm, gắn liền với phần trụ tròn dài 03cm, đường kính 2,5cm và 02 hộp pháo có kích thước đều như nhau khoảng 15cm x 14,5cm, x14,5cm bên trong mỗi hộp có chứa 36 ống hình trụ tròn, theo T khai nhận đó là pháo hoa và pháo trứng của T. Tiếp tục khám xét khẩn cấp đối với nhà ở, khu vực xung quanh nhà ở của Dương Văn T đã phát hiện thêm 37 quả pháo dạng tròn có trụ và dây dẫn màu xanh (thu giữ trong nhà vệ sinh) của Dương Văn T.
Qua kết quả giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên đã kết luận: Số vật chứng thu giữ của T là pháo, có đặc tính của pháo nổ (Có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).
Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà kết luận Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Nội dung Điều 191 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây…thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) …
c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;
...
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Thẩm phán
- Chủ toạ phiên toà xác định:
Hành vi của bị cáo Dương Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm”, khung hình phạt mà bị cáo phải chịu trách nhiệm thuộc trường hợp là tội phạm ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hoá mà Nhà nước cấm lưu thông , gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự của địa phương, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, do vậy cần phải xử lý nghiêm minh bị cáo bằng pháp luật hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi thực hiện tội phạm của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Từ những căn cứ nêu trên, khi quyết định hình phạt Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà cần có một mức án phù hợp với nhân thân, tính chất mức độ tội phạm do bị cáo Dương Văn T gây ra. Đồng thời, Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà thấy bị cáo đề là người được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, có thể áp dụng một mức hình phạt tương ứng với 12 tháng tù đối với bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát và giáo dục là cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung, đồng thời nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật nhà nước ta. Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà cần tuyên rõ hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Dương Văn T phạm tội không nhằm thu lời bất chính, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xử lý vật chứng như sau:
Tịch thu tiều huỷ: 6,1 kg pháo nổ, đã niêm phong, để trong 01 thùng caston; KH: M4 bao gồm 01 hộp pháo giàn; 131 quả pháo trứng (Vật chứng trên hiện nay được gửi bảo quản tại Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên);
Trả lại cho bị cáo:
- 01 (Một) điện thoại di động OPPO F1S màu vàng có số imel 08579 mãy cũ đã qua sử dụng của Dương Văn T.
- 01(Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA BKS 20M3-8146 xe mầu đen, không có gương chiếu hậu cả hai bên, yếm bên phải bị vỡ, sô máy HC12E – 0274037, số khung RLHHG12028Y144255 xe cũ đã qua sử dụng
- Tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án đối với bị cáo Dương Văn T số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).
Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo như đề nghị về tội danh, mức hình phạt chính, xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp là phù hợp với quy định của Pháp luật, được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ, pháp luật áp dụng:
- Điểm c khoản 1 Điều 191; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điểm b khoản 1 Điều 46; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015;
- Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 455; Điều 457; Điều 463 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
3. Về hình phạt chính: Xử phạt
Dương Văn T 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mười bốn tháng), tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (là ngày 31/ 01/ 2019).
Giao bị cáo Dương Văn T cho Ủy ban nhân dân xã h, thị xã p, tỉnh Thái Nguyên giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo (bị cáo Dương Văn T) cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Tịch thu tiêu huỷ: 6,1 kg pháo nổ, đã niêm phong, để trong 01 thùng caston; KH: M4 bao gồm 01 hộp pháo giàn; 131 quả pháo trứng (Vật chứng trên hiện nay được gửi bảo quản tại Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên);
Trả lại cho bị cáo Dương Văn T những tài sản sau:
- 01 (Một) điện thoại di động OPPO F1S màu vàng có số imel 08579 mãy cũ đã qua sử dụng của Dương Văn T.
- 01(Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA BKS 20M3-8146 xe mầu đen, không có gương chiếu hậu cả hai bên, yếm bên phải bị vỡ, số máy HC12E – 0274037, số khung RLHHG12028Y144255 xe cũ đã qua sử dụng
Tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án đối với bị cáo Dương Văn T số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Dương Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp sung quỹ Nhà nước.
6. Thông báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo (Dương Văn T). Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND huyện Phú Bình; - Cơ quan điều tra CA huyện Phú Bình; - CQTHAHS Công an huyện Phú Bình; - CC T.H.A DS huyện Phú Bình; - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên; - Bị cáo; - Lưu: HS, VP, T.H.A HS. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ích Yên |