vanban.org

Bản án 11/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Kim Liếu được ly hôn với anh Ong Huệ Hòa.

Về quyền nuôi con chung: Giao cho chị Lê Kim Liếu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ong Thị Kim Như (nữ) sinh ngày 06/11/2012. Ghi nhận ý chí tự nguyện của chị Liếu, về việc không yêu cầu anh Hòa cấp dưỡng cho con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Kim Liếu được ly hôn với anh Ong Huệ Hòa.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 20 - 3 - 2019
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Triệu Khánh Long;

2. Ông Thái Trung Nghĩa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên Tòa: Ông Hồ Văn Phân – Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 270/2018/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 10 năm 2018 về việc“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 01 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2019/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Kim Liếu, sinh năm: 1981 (Có mặt).

Địa chỉ: Nhà không số ấp No Tom, xã Hòa Đông, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bị đơn: Anh Ong Huệ Hòa, sinh năm 1985 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Nhà không số ấp No Tom, xã Hòa Đông, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02/10/2018 (BL 01) cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Lê Kim Liếu trình bày:

Vào năm 2010, chị Liếu kết hôn với anh Ong Huệ Hòa và được Ủy ban nhân dân phường Khánh Hòa cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 14/12/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ chồng ở khóm Bưng Tum, phường Khánh Hòa đến năm 2014 thì vợ chồng ra riêng tại ấp No Tom, xã Hòa Đông, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Trong thời gian sống chung, vợ chồng có 01 con chung là cháu Ong Thị Kim Như (nữ) sinh ngày 06/11/2012. Do bất đồng quan điểm, thường tranh chấp cãi vã nên tình cảm ngày càng phai nhạt, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay, chị Liếu yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Hòa.

Về con chung: Chị Liếu đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Như, chị Liếu yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu anh Hòa cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung và nợ chung: Tài sản chung tự thỏa thuận phân chia và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Chứng cứ do chị Liếu giao nộp là Giấy chứng nhận kết hôn; bản sao Giấy chứng minh nhân dân, bản sao Sổ hộ khẩu, bản sao Giấy khai sinh của cháu Ong Thị Kim Như.

Đối với bị đơn Ong Huệ Hòa: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của chị Liếu nhưng anh Hòa không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình. Đồng thời, anh Hòa cũng vắng mặt không có lý do trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 14/11/2018, ngày 03/12/2018. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp trên cho anh Hòa và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 18/02/2019, bị đơn Hòa vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, đối với bị đơn anh Ong Huệ Hòa, trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh Hòa vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Hòa theo quy định của pháp luật. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Liếu được ly hôn với anh Ong Huệ Hòa, giao cho chị Liếu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, anh Hòa không phải cấp dưỡng cho con; không xem xét, giải quyết về tài sản và nợ chung do không có yêu cầu; chị Liếu phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị Liếu khởi kiện, yêu cầu ly hôn với anh Hòa và yêu cầu tiếp tục nuôi con chung. Yêu cầu của chị Liếu được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 51, Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (sau đây gọi là Luật hôn nhân và gia đình) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn Ong Huệ Hòa đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Về nội dung giải quyết:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn; bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu, Giấy khai sinh của cháu Ong Thị Kim Như cũng như việc không phản đối của anh Hòa; đối chiếu với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử khẳng định lời trình bày của chị Liếu về việc kết hôn với anh Hòa được Ủy ban nhân dân phường Khánh Hòa cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 14/12/2012 và vợ chồng đã có 01 con chung là sự thật. Vì vậy, giữa chị Liếu và anh Hòa đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp, quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuy nhiên, do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường mâu thuẫn cãi vã làm cho cuộc sống chung không hạnh phúc, hiện nay chị Liếu và anh Hòa không còn chung sống với nhau nữa; mạnh ai nấy sống, người nào chỉ biết bổn phận của người đó, không cùng nhau thực hiện các công việc gia đình; không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Như. Như vậy, chị Liếu và anh Hòa đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình; vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần áp dụng các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, giải quyết cho chị Liếu được ly hôn với anh Hòa.

Đối với quyền nuôi con chung: Cháu Như hiện nay đang sống cùng với chị Liếu, được phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần, hơn nữa cháu Như là nữ còn nhỏ cũng cần có sự chăm sóc của mẹ và chị Liếu tha thiết xin được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, như vậy chị Liếu đã thực hiện đúng nghĩa vụ và quyền của cha mẹ quy định tại Điều 69 của Luật hôn nhân và gia đình. Về phía anh Hòa, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các Thông báo của Tòa án cho anh Hòa, trong thông báo thể hiện rõ yêu cầu của chị Liếu nhưng anh Hòa không phản đối và không có ý kiến gì. Mặc khác, chị Liếu yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Như nên căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, giao cho chị Liếu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Như; đồng thời, ghi nhận ý chí tự nguyện của chị Liếu về việc không yêu cầu anh Hòa cấp dưỡng nuôi con

Nguyên đơn tiếp tục khẳng định tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Chị Liếu phải chịu là 300.000 đồng, theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên, Hội đồng xét xử cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã nêu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Kim Liếu được ly hôn với anh Ong Huệ Hòa.

2. Về quyền nuôi con chung: Giao cho chị Lê Kim Liếu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ong Thị Kim Như (nữ) sinh ngày 06/11/2012.

Ghi nhận ý chí tự nguyện của chị Liếu, về việc không yêu cầu anh Hòa cấp dưỡng cho con.

Trong thời gian chị Liếu nuôi dưỡng con chung, không ai được quyền ngăn cản sự thăm nom, chăm sóc, giáo dục của cha mẹ đối với con chung.

Vì quyền lợi về mọi mặt của cháu Như, chị Liếu có thể yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi nghĩa vụ và mức cấp dưỡng cho con; anh Hòa có thể yêu cầu giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Các đương sự thực hiện quyền này theo quy định pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn khẳng định tài sản chung tự thỏa thuận phân chia và nợ chung không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Kim Liếu phải chịu là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003970 ngày 04/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, chị Liếu đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Lê Kim Liếu có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án; anh Ong Huệ Hòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Cỡ chữ