vanban.org

Bản án 11/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Bến Tre Tuyên án 18/03/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Đặng Thị Huyền T.

Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Huyền T được ly hôn với ông Cheng Yi S. Về con chung, về tài sản chung và về nợ chung: Bà Đặng Thị Huyền T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng không ghi nhận được lời trình bày của ông Cheng Yi S nên không có cơ sở xem xét. Nếu có phát sinh tranh chấp v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Huyền T-Chen Yi S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Đặng Thị Huyền T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2019/HNGĐ-ST
Ngày 18 – 3 - 2019
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Bùi Thế Xương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hải Hà

Ông Dương Vĩnh Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiên Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

Ngày 18 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2018/TLST–HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp ly hôn.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11A/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Huyền T, sinh năm: 1984

Địa chỉ: Ấp M, xã Đ, huyện B, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Ông Cheng Yi S, sinh năm: 1962

Địa chỉ: Số xxx, lộ Tứ D, khóm 0xx, thôn T, làng V, huyện B, Đài Loan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 5 năm 2018, bản tự khai cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Đặng Thị Huyền T trình bày:

Bà và ông Cheng Yi S do nhờ người mai mối, hai bên tìm hiểu nhau và tự nguyện tiến đến hôn nhân, hai bên làm lễ cưới với nhau ngày 15/6/2017 (âm lịch), đã đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre ngày 03/8/2017. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc tại Việt Nam được khoảng 02 tháng. Sau đó, ông S trở về Đài Loan, sau khi đi thì ông S có trở về Việt Nam thăm bà T hai lần, mỗi lần khoảng 07 ngày. Tuy nhiên, đến khoảng tháng 11/2017 thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống cũng như bất đồng ngôn ngữ nên không còn liên lạc với nhau nữa, tình cảm vợ chồng cũng phai nhạt do vợ chồng ở xa nhau. Nay bà thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà những vấn đề sau:

Về hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Cheng Yi S, không yêu cầu cấp dưỡng vợ chồng sau ly hôn.

Về con chung, về tài sản chung, về nợ chung: Bà trình bày là không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn ông Cheng Yi S đã được Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp để thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập ông Cheng Yi S đến Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng ông Cheng Yi S vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre tiến hành xét xử vắng mặt ông Cheng Yi S theo quy định pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Quan hệ tranh chấp giữa bà Đặng Thị Huyền T và ông Cheng Yi S là ly hôn, nguyên đơn bà Đặng Thị Huyền T đang ở Việt Nam, bị đơn ông Cheng Yi S hiện đang ở nước ngoài (Đài Loan) nên căn cứ vào khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38 và Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Huyền T và ông Cheng Yi S tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 03 tháng 8 năm 2017 nên hôn nhân giữa bà Đặng Thị Huyền T và ông Cheng Yi S là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng bà T và ông Yi S chung sống hạnh phúc với nhau khoảng hai tháng tại Việt Nam thì ông S về Đài Loan. Vợ chồng ông bà không liên lạc thường xuyên qua điện thoại, do hai người ở hai nơi xa nhau, bất đồng ngôn ngữ cũng như quan điểm sống nên tình cảm vợ chồng cũng dần phai nhạt. Đến nay thì hai vợ chồng không còn sống chung, không còn liên lạc cũng như quan tâm đến nhau. Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp thông báo thụ lý vụ án cho ông Cheng Yi S nhưng không nhận được văn bản nêu ý kiến của bà về những vấn đề bà T yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử thấy rằng hôn nhân của bà T và ông S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng không có quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà T yêu cầu ly hôn với ông S là có cơ sở nên được chấp nhận.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng không nhận được văn bản ghi nhận lời trình bày của ông Cheng Yi S nên không có cơ sở xem xét. Nếu có phát sinh tranh chấp về con chung, tài sản chung và nợ chung thì các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch: Bà Đặng Thị Huyền T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38 và Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 56 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Đặng Thị Huyền T.

Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Huyền T được ly hôn với ông Cheng Yi S.

Về con chung, về tài sản chung và về nợ chung: Bà Đặng Thị Huyền T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng không ghi nhận được lời trình bày của ông Cheng Yi S nên không có cơ sở xem xét. Nếu có phát sinh tranh chấp về con chung, tài sản chung và nợ chung thì các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Đặng Thị Huyền T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008080 ngày 09 tháng 9 năm 2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

Bà Đặng Thị Huyền T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án; ông Cheng Yi S được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ