- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Trần Cẩm T - Phạm Thái S"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Trần Cẩm T được ly hôn với anh Phạm Thái S.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2019/HNGĐ-ST Ngày 29-5-2019 “Về việc: Ly hôn, tranh chấp về con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Dương Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lô Thị Giang, nghề nghiệp: Cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ xã Ea Phê.
2. Ông Nguyễn Đình Nghịch, nghề nghiệp: Cán bộ Hội khuyết tật và trẻ mồ côi huyện Krông Pắc.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà Hương - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thủy - chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 29/5/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 74/2019/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 3 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/5/2019 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2019/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Trần Cẩm T, sinh năm 1988.
Nơi ĐKNKTT: Thôn 6B, xã Hòa A, huyện Krông P, tỉnh Đắk Lắk.
Chỗ ở hiện nay: Thôn Bình S, xã Ninh T, thị xã Ninh H, tỉnh Khánh Hòa - Có mặt.
- Bị đơn: Anh Phạm Thái S, sinh năm 1985.
Nơi ĐKNKTT: Thôn 6B, xã Hòa A, huyện Krông P, tỉnh Đắk Lắk.
Chỗ ở hiện nay: Thôn 6A, xã Hòa A, huyện Krông P, tỉnh Đắk Lắk. - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Trần Cẩm T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi với anh Phạm Thái S kết hôn trên cơ sở tình yêu tự nguyện, tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hoà A, huyện Krông P, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 27-01-2011, theo giấy chứng nhận kết hôn số 20.
Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình cả hai không hòa hợp, cãi vã nhau thường xuyên. Trong cuộc sống do anh Sơn nhiều lần nhậu say về xúc phạm vợ con và đánh vợ con, tôi đã nhiều lần tha thứ bỏ qua nhưng anh Sơn vẫn không thay đổi. Vào năm 2014 tôi đã 01 lần làm đơn ly hôn tuy nhiên Tòa án đã hòa giải cho vợ chồng nên tôi đã rút đơn để vợ chồng quay về đoàn tụ cùng chăm lo con theo Quyết định đình chỉ số 39/2014/QĐ-DS ngày 09/9/2014 của TAND huyện Krông Pắc. Tuy nhiên sau khi quay về đoàn tụ thì anh S vẫn không thay đổi. Vợ chồng vẫn mâu thuẫn, cãi vã nhau và ngày càng trầm trọng hơn. Nên đầu tháng 8 năm 2018 tôi phải về nhà ba đẻ của mình tại Thôn Bình S, xã Ninh T, thị xã Ninh H, tỉnh Khánh Hòa để ở.
Xét hôn nhân giữa tôi với anh Phạm Thái S không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn. Nên tôi làm đơn xin ly hôn gửi đến Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Phạm Thái S. Nguyện vọng của tôi là đề nghị Tòa án giải quyết cho chúng tôi được ly hôn.
- Về con chung: Quá trình chung sống giữa tôi với anh Phạm Thái S có 01 con chung là cháu Phạm Gia H1, sinh ngày 24-11-2011. Hiện cháu H1 còn nhỏ đang sống cùng với anh Phạm Thái S. Theo đơn khởi kiện, vợ chồng ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Gia H1. Tuy nhiên sau khi Tòa án lấy lời khai cháu H1, cháu có nguyện vọng được ở với bố là anh Phạm Thái S. Nên tại các buổi làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa hôm nay, tôi xin được giao cháu Phạm Gia H1 cho anh Phạm Thái S trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng thì tôi và anh S tự thỏa thuận, thống nhất với nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Tôi và anh Phạm Thái S tự thỏa thuận tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Tôi và anh Phạm Thái S tự thỏa thuận nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra tôi không có ý kiến gì thêm.
* Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Phạm Thái S trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi nhất trí với ý kiến mà chị Lê Trần Cẩm T nêu trên. Cụ thể: Tôi với chị Lê Trần Cẩm T kết hôn trên cơ sở tình yêu tự nguyện, tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hoà A, huyện Krông P, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 27-01-2011, theo giấy chứng nhận kết hôn số 20.
Trong quá trình chung sống thì vợ chồng thi thoảng có xảy ra mâu thuẫn nhưng không đáng kể. Hai vợ chồng cũng đã được hai bên gia đình khuyên can, hàn gắn nhiều lần. Trước đây chị Lê Trần Cẩm T có làm đơn xin ly hôn với tôi nhưng sau đó vợ chồng quay về đoàn tụ theo Quyết định đình chỉ số 39/2014/QĐ-DS ngày 09/9/2014 của TAND huyện Krông Pắc. Sau khi vợ chồng quay về chung sống được một thời gian thì đến tháng 8 năm 2018 chị Lê Trần Cẩm T đã bỏ nhà đi nơi khác sinh sống. Nay chị Lê Trần Cẩm T có đơn xin ly hôn gửi đến Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Lê Trần Cẩm T với tôi là Phạm Thái S được ly hôn thì tôi không đồng ý. Đề nghị Tòa án hòa giải cho vợ chồng quay về đoàn tụ để cùng chăm lo, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Phạm Gia H1.
- Về con chung: Nhất trí như chị T nêu là quá trình chung sống giữa tôi với chị Lê Trần Cẩm T có 01 con chung là cháu Phạm Gia H1, sinh ngày 24-11-2011. Hiện cháu H1 còn nhỏ đang sống cùng với tôi. Do tôi không đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải cho vợ chồng quay về đoàn tụ để chăm lo, giáo dục con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung, không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, về nợ chung: Do tôi không đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải cho vợ chồng quay về đoàn tụ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, về nợ chung.
Ngoài ra tôi không có ý kiến gì thêm.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho nguyên đơn, bị đơn, công khai chứng cứ, hòa giải về quan hệ hôn nhân. Về quan hệ hôn nhân do chị Lê Trần Cẩm T và anh Phạm Thái S không thống nhất được với nhau. Cụ thể chị Lê Trần Cẩm T vẫn cương quyết xin được ly hôn với anh Phạm Thái S còn anh Phạm Thái S thì đề nghị đoàn tụ, quay về chung sống với nhau. Vì vậy, căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa chị Lê Trần Cẩm T vẫn cương quyết xin được ly hôn với anh Phạm Thái S còn anh Phạm Thái S không đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án hòa giải cho vợ chồng quay về đoàn tụ.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và của HĐXX, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Trong quá trình giải quyết vụ án, những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71, 72 và 234 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Trần Cẩm T được ly hôn với anh Phạm Thái S.
- Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Phạm Gia H1, sinh ngày 24-11-2011 cho anh Phạm Thái S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi cháu H1 tròn 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình làm việc cũng như tại phiên tòa chị Lê Trần Cẩm T thống nhất để chị và anh S tự thỏa thuận với nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên không đề cập để giải quyết.
- Về tài sản chung, về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập để giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về nội dung vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Lê Trần Cẩm T khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Thái S. Anh Phạm Thái S có hộ khẩu thường trú tại xã Hòa A, huyện Krông P, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
- Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 3 năm 2019 của chị Lê Trần Cẩm T, Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk xác định quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về con chung” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung khởi kiện: Chị Lê Trần Cẩm T làm đơn xin được ly hôn với anh Phạm Thái S. Hội đồng xét xử thấy:
- Về quan hệ hôn nhân: Qua việc thu thập chứng cứ tại chính quyền địa phương xã Hòa A và Hội liện hiệp phụ nữ xã Hòa A thể hiện tại biên bản xác minh ngày 19 tháng 4 năm 2019 (BL 28, 28a) cùng các tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp có trong hồ sơ thể hiện: Chị Lê Trần Cẩm T với anh Phạm Thái S kết hôn trên cơ sở tình yêu tự nguyện, tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hoà A, huyện Krông P, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 27-01-2011, theo giấy chứng nhận kết hôn số 20. Vì vậy, xác định hôn nhân giữa chị T và anh S là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình cả hai không hòa hợp, cãi vã nhau thường xuyên. Trong cuộc sống do anh S nhiều lần nhậu say về xúc phạm vợ con và đánh vợ con, tôi đã nhiều lần tha thứ bỏ qua nhưng anh S vẫn không thay đổi. Vào năm 2014 chị T đã 01 lần làm đơn ly hôn tuy nhiên Tòa án đã hòa giải cho vợ chồng nên chị đã rút đơn để vợ chồng quay về đoàn tụ cùng chăm lo con theo Quyết định đình chỉ số 39/2014/QĐ-DS ngày 09/9/2014 của TAND huyện Krông Pắc. Tuy nhiên sau khi quay về đoàn tụ thì anh S vẫn không thay đổi. Đầu tháng 8 năm 2018 chị T phải về nhà ba đẻ của mình tại Thôn Bình S, xã Ninh T, thị xã Ninh H, tỉnh Khánh Hòa để ở. Theo biên bản xác minh ngày 19 tháng 4 năm 2019 tại chính quyền địa phương xã Hòa A (BL 28) thể hiện: “... Trong quá trình chung sống thì vợ chồng anh S chị T có xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau. Địa phương thấy vợ chồng chị T anh S hiện nay không sống chung với nhau nữa. Bản thân chị Lê Trần Cẩm T hiện nay không còn sinh sống tại thôn 6A, xã Hòa A, huyện Krông P. Địa phương chỉ thấy anh S và con chung của anh chị còn sống tại thôn 6A, xã Hòa A...”. Theo biên bản xác minh ngày 19 tháng 4 năm 2019 tại Hội liên hiệp phụ nữ xã Hòa A (BL 28a) thể hiện: “...Hiện nay chị Lê Trần Cẩm T không còn sinh sống tại địa phương mà chuyển đến sinh sống tại tỉnh Khánh Hòa vào năm 2018 cho đến nay..”.
Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, có nghĩa vụ chung sống với nhau.
Căn cứ vào tình trạng hôn nhân thực tế giữa chị T với anh S và theo biên bản xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh chị sinh sống, Hội đồng xét xử thấy: mâu thuẫn giữa chị T và anh S lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Lê Trần Cẩm T yêu cầu xin ly hôn đối với anh Phạm Thái S là có căn cứ. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Trần Cẩm T. Chị Lê Trần Cẩm T được ly hôn với anh Phạm Thái S.
- Về con chung: Quá trình chung sống, giữa chị Lê Trần Cẩm T với anh Phạm Thái S có 01 con chung là cháu Phạm Gia H1, sinh ngày 24-11-2011. Hiện nay cháu Phạm Gia H1 còn nhỏ, đang ở cùng với anh Phạm Thái S. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:
“2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Qua xem xét lời khai của cháu Phạm Gia H1, sinh ngày 24-11-2011 thì thấy cháu có nguyện vọng được ở với bố là anh Phạm Thái S và thực tế hiện nay cháu đang ở cùng với anh S. Quá trình làm việc cũng như tại phiên tòa, chị Lê Trần Cẩm T có nguyện vọng giao cháu Phạm Gia H1 cho anh Phạm Thái S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi cháu H1 tròn 18 tuổi. Và theo biên bản xác minh ngày 19 tháng 4 năm 2019 tại Hội liên hiệp phụ nữ xã Hòa A (BL 28a) thể hiện: “..Về khả năng nuôi dưỡng cháu Phạm Gia H1 thì địa phương được biết anh S hiện tại làm nông nghiệp và có nhà cửa ổn định. Mặc khác do chị Lê Trần Cẩm T hiện đang sinh sống với mẹ ruột tại tỉnh Khánh Hòa nên địa phương không được nắm rõ.”...
Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của con chung chưa thành niên, căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử thấy: giao con chung cháu Phạm Gia H1, sinh ngày 24-11-2011 cho anh Phạm Thái S trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng khi ly hôn là phù hợp.
Chị Lê Trần Cẩm T được quyền đi lại, thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản chị T thực hiện quyền này.
Vì quyền lợi của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình làm việc cũng như tại phiên tòa, chị Lê Trần Cẩm T thống nhất để chị và anh S tự thỏa thuận với nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập để xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Lê Trần Cẩm T và anh Phạm Thái S xác định giữa anh chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập để xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Lê Trần Cẩm T và anh Phạm Thái S xác định giữa anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập để xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Lê Trần Cẩm T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tại phiên tòa là phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đúng pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 220, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Áp dụng khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Trần Cẩm T được ly hôn với anh Phạm Thái S.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung cháu Phạm Gia H1, sinh ngày 24-11-2011 cho anh Phạm Thái S trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu H1 tròn 18 tuổi.
Chị Lê Trần Cẩm T được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản chị T thực hiện quyền này.
Vì quyền lợi của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.
4. Về tài sản chung và công nợ chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.
5. Về án phí: Chị Lê Trần Cẩm T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị Lê Trần Cẩm T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk theo biên lai thu số AA/2017/0011129 ngày 15 tháng 3 năm 2019.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Pắc; - Chi cục THADS huyện Krông Pắc; - UBND xã Hòa A; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, V.P. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ T A PHI N TÒA (Đã ký) Phan Thị Dương Thanh |