vanban.org

Bản án 11/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố không công nhận chị Đỗ Thị Nh và anh Vũ Văn Gi là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Chị Nh và anh Gi có 02 con chung là Vũ Đức Q, sinh ngày 03-11-1996 và Vũ Thị A, sinh ngày 20-10-2000, đến nay cả hai con chung đều đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết trách nhiệm nuôi dưỡng. Về chia tài sản: Không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố không công nhận chị Đỗ Thị Nh và anh Vũ Văn Gi là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƢNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2019/HNGĐ-ST
Ngày 29-3-2019
“V/v không công nhận là vợ
chồng giữa chị Nh với
anh Gi”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hà. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thực 2. Ông Trần Văn Bể

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trường là thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 29-3-2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 291/2018/TLST - HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2018 về việc “Không công nhận là vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/QĐXXST – HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Nh, sinh năm 1976, (có mặt) Địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Bị đơn: Anh Vũ Văn Gi, sinh năm 1971, (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

(Anh Gi bị bệnh tâm thần phân liệt)

Người đại diện cho anh Gi: Ông Vũ Văn N, sinh năm 1951

Địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

(Ông N là bố đẻ anh Vũ Văn Gi, vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Đỗ Thị Nh trình bày: Chị và anh Vũ Văn Gi không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nhưng được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán ở địa phương và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1995. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau nên xảy ra xô xát, cãi vã nhau. Mâu thuẫn ngày càng căng thẳng, đến năm 2003 thì anh Gi đã đánh đuổi chị ra khỏi nhà, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ đó đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị với anh Gi không còn, chị yêu cầu Toà án nhân dân (TAND) huyện Hưng Hà giải quyết cho chị được ly hôn anh Gi. Chị và anh Gi có 02 con chung là Vũ Đức Q, sinh ngày 03-11-1996 và Vũ Thị A, sinh ngày 20-10-2000, đến nay cả hai con đều đã trưởng thành nên không phải nuôi dưỡng. Chị và anh Gi không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị được biết sau khi chị và anh Gi sống ly thân nhau thì anh Gi bị mắc bệnh tâm thần phân liệt, hiện nay anh Gi đang được cấp phát thuốc điều tại Trạm y tế xã C, huyện Hưng Hà.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 31-01-2019, ông Vũ Văn Giả trình bày: Ông là bố đẻ anh Vũ Văn Gi. Anh Gi và chị Đỗ Thị Nh kết hôn với nhau vào cuối năm 1995. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến tháng 4 năm 2004 thì anh Gi mắc bệnh tâm thần kinh nên chị Nh đã bỏ đi từ đó đến nay không quan tâm gì đến anh Gi nữa. Nay chị Nh khởi kiện xin ly hôn anh Gi, ông không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh Gi và chị Nh có 02 con chung là Vũ Đức Q, sinh ngày 03-11-1996 và Vũ Thị A, sinh ngày 20-10-2000, đến nay cả hai con đều đã trưởng thành đã trưởng thành. Anh Gi và chị Nh không có tài sản chung.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng và của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký Tòa án đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định. Nguyên đơn là Nhuần đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; người đại diện cho bị đơn là ông Giả đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông Giả vẫn vắng mặt tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử xử vắng mặt ông Giả.

- Về giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên bố không công nhận chị Đỗ Thị Nh và anh Vũ Văn Gi là vợ chồng. Chị Nh và anh Gi có 02 con chung là Vũ Đức Q, sinh ngày 03-11-1996 và Vũ Thị A, sinh ngày 20-10-2000, đến nay cả hai con chung đều đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết trách nhiệm nuôi dưỡng. Chị Nh và anh Gi không có tài sản chung nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà nhận định:

Chị Đỗ Thị Nh khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh Vũ Văn Gi. Anh Gi cư trú tại: Thôn Vế Đông, xã C, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, và xác minh của Tòa án tại Trạm y tế xã C, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình thì anh Gi mắc bệnh tâm thần phân liệt từ năm 2004, hiện đang điều trị ngoại trú theo chương trình tâm thần cộng đồng, anh Gi được cấp thuốc điều trị mỗi tháng 02 lần vào ngày 15 hàng tháng thông qua người thân. Do anh Gi mắc bệnh tâm thân phân liệt nên anh gặp khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi của mình vì vậy Tòa án đã chỉ định ông Vũ Văn Giả là bố đẻ anh Gi tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện cho anh Gi trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 88 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Vũ Văn Giả đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng ông vắng mặt không có lý do, vì vậy TAND huyện Hưng Hà mở phiên tòa xét xử vắng mặt ông Giả theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Theo xác minh tại UBND xã C thì chị Đỗ Thị Nh và anh Vũ Văn Gi chung sống với nhau không đăng ký kết hôn (phù hợp với lời trình bày của chị Nh). Như vậy chị Đỗ Thị Nh và anh Vũ Văn Gi không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1995 đến năm 2003 thì phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân nhau đến nay. Nay chị Nh khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh Gi, xét thấy cần xử tuyên bố không công nhận chị Đỗ Thị Nh và anh Vũ Văn Gi là vợ chồng là phù hợp với quy định tại Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Chị Nh và anh Gi có 02 con chung là Vũ Đức Q, sinh ngày 03-11-1996 và Vũ Thị A, sinh ngày 20-10-2000, đến nay cả hai con chung đều đã trưởng thành nên không phải giải quyết trách nhiệm nuôi dưỡng

Về chia tài sản: Chị Nh và ông Giả đều trình bày chị Nh và anh Gi không có tài sản chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Tuyên bố không công nhận chị Đỗ Thị Nh và anh Vũ Văn Gi là vợ chồng.

2. Về nuôi con chung: Chị Nh và anh Gi có 02 con chung là Vũ Đức Q, sinh ngày 03-11-1996 và Vũ Thị A, sinh ngày 20-10-2000, đến nay cả hai con chung đều đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết trách nhiệm nuôi dưỡng.

3. Về chia tài sản: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Đỗ Thị Nh phải chịu 300.000đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Nh đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005255 ngày 23-10-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà. Chị Nh đã nộp đủ tiền án phí.

5. Chị Đỗ Thị Nh có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Vũ Văn Giả vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Cỡ chữ