vanban.org

Bản án 11/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Nhung và anh Chu Đình Hà.

Về con: Chị Nguyễn Thị Nhung và anh Chu Đình Hà có 02 con chung: Chu Thị Hạnh, sinh ngày 16/08/2001, Chu Thị Dung, sinh ngày 10/02/2009. Giao cho chị Nguyễn Thị Nhung trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Chu Thị Hạnh, giao cho anh Hà trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Chu Thị Dung cho đến khi các cháu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án HNGĐ số 11/2019 ngày 17/01/2019 đới với chị Nguyễn Thị Nhung và anh Chu Đình Hà về việc: Ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Nhung và anh Chu Đình Hà.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOẰNG HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 17/01/2019
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Thế Huân

2. Bà Đỗ Thị Vân

-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Vân - Thư ký Tòa án Tòa án ND huyện Hoằng Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát ND huyện Hoằng Hóa tham gia phiên toà:

Bà Hoàng Thị Hoa, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 336/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2019/QĐXX-ST ngày 03 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Chị Nguyễn Thị Nhung, sinh năm 1983

Địa chỉ: Thôn 7, xã Hoằng Đông, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bị đơn: Anh Chu Đình Hà, sinh năm 1979

Địa chỉ: Thôn 2, xã Hoằng Ngọc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nhung, vắng mặt bị đơn Chu Đình Hà không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/11/2018, bản tự khai ngày 14/12/2018 và lời khai tại phiên tòa của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nhung thể hiện:

Tôi ( Nhung) và anh Chu Đình Hà tự nguyện kết hôn có tổ chức cưới hỏi của hai bên gia đình năm 2000 nhưng do chúng tôi lo làm ăn nên không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Hoằng Ngọc mà chung sống với nhau như vợ chồng đến năm 2012 bắt đầu phát sinh mâu thuẫm. Nguyên nhân do chúng tôi không có tình cảm với nhau nên không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải nhau. Từ năm 2012 đến nay vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay tôi nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Hà.

Về con: Chị Nguyễn Thị Nhung và anh Chu Đình Hà có 02 con chung: Chu Thị Hạnh, sinh ngày 16/08/2001, Chu Thị Dung, sinh ngày 10/02/2009. Hiện nay cháu Chu Thị Hạnh đang ở với chị Nhung cháu Chu Thị Dung đang ở với anh Hà, cả hai cháu đều sức khỏe bình thường. Nay ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cả hai cháu và không yêu cầu cho anh Hà cấp dưỡng con còn nếu anh Hà nhận nuôi cháu Dung thì tôi cũng đồng ý để cho anh Hà được tiếp tục nuôi cháu. Đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản và công nợ: Tôi không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Chu Đình Hà đến để giải quyết vụ án, nhưng anh vẫn không có mặt. Theo lời trình của anh Chu Đình Sơn là anh Trai của anh Hà thể hiện: Em trai tôi là lái xe khách tuần mới về qua nhà một lần ngủ qua đêm xong sáng mai lại đi và anh thường xuyên gọi điện liên lạc về cho tôi và hỏi thăm sức khỏe con gái, mẹ, anh chị em trong nhà. Việc chị Nhung xin ly hôn anh, anh Hà đã biết, anh Hà nhờ tôi nhận mọi giấy tờ của Tòa án và thông báo lại nội dung cho anh. Nay chị Nhung đề nghị ly hôn thì anh Hà cho tôi biết là tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết.

Về con chung: Anh Chu Đình Hà và chị Nguyễn Thị Nhung có 02 con chung: Chu Thị Hạnh, sinh ngày 16/08/2001, Chu Thị Dung, sinh ngày 10/02/2009. Hiện nay cháu Chu Thị Hạnh đang ở với chị Nhung, cháu Chu Thị Dung đang ở với anh Hà, cả hai cháu đều sứa khỏe bình thường. Nay ly hôn chị Dung có nguyện vọng được nuôi cả hai cháu và không yêu cầu anh Hà cấp dưỡng nuôi con nếu anh Hà có nguyện vọng nuôi thì tôi cũng đồng ý để cho anh nuôi cháu Dung. Đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai của cháu Chu Thị Hạnh và cháu Chu Thị Dung: Cháu Chu Thị Hạnh có nguyện vọng được ở với chị Nhung, cháu Dung có nguyện vọng được ở với anh Hà.

Tại biên bản làm việc với UBND xã Hoằng Ngọc thể hiện: Chị Nguyễn Thị Nhung và anh Chu Đình Hà về chung sống với nhau từ năm 2000 nhưng UBND xã vẫn không thấy anh chị ra xã để đăng ký kết hôn mà anh chị sống chung như vợ chồng cho đến năm 2012 vợ chồng mâu thuẫn, chị Nhung đã bỏ về nhà ngoại ở tại xã Hoằng Đông cho đến nay chị làm đơn xin ly hôn anh Hà.

Về tài sản: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về quá trình tố tụng và đề xuất hướng giải quyết vụ án: Tòa án và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo luật định. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị Nguyễn Thị Nhung được ly hôn với Chu Đình Hà. Về con chung: Vợ chồng có 02( Hai) con chung Chu Thị Hạnh, sinh ngày 16/08/2001, Chu Thị Dung, sinh ngày 10/02/2009. Nay ly hôn chị Nhung có nguyện vọng đồng ý giao cháu Dung cho anh Hà nuôi vì từ trước đến nay cháu đang ở với anh Hà, anh vẫn chăm sóc đảm bảo cho cháu ăn học bình thường. Do đó đề nghị HĐXX giao cháu Chu Thị Hạnh cho chị Nhung trực tiếp nuôi dưỡng, giáo cháu Chu Thị Dung cho anh Hà tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Chị Nhung, anh Hà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nhung không có sự thay đổi, bổ sung, rút toàn bộ về yêu cầu khởi kiện, các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án, Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập anh Hà đến Tòa án làm việc, Thông báo về phiên hòa kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải,Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giao các văn bản tố tụng theo luật định. Nhưng anh Hà vẫn không đến Tòa án làm việc. Tòa án tiến hành xét xử giải quyết vụ án theo quy định chung vào ngày 15/01/2018 nhưng đã quyết định hoãn phiên tòa theo khoản 1 Điều 227 do vắng mặt bị đơn là anh Hà lần thứ nhất không có lý do. Nay tiếp tục xét xử vào ngày 17/01/2018 với sự có mặt của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nhung theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Nhung và anh Chu Đình Hà cưới nhau năm 2000 anh chị sống với nhau như vợ chồng nhưng mãi lo làm ăn nên không đến UBND xã Hoằng Ngọc làm thủ tục đăng ký kết hôn. Đến năm 2012 vợ chồng sống ly thân cho đến nay .

Vợ chồng anh chị sống với nhau chỉ hòa thuận một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn không thể hòa giải nổi, vợ chồng không quan tâm gì đến nhau thể hiện tình cảm anh chị thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân gia đình năm 2104, khoản 3 nghị quyết 35 ngày 09/6/2000 của Quốc hội hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Nhung là không công nhận quan hệ vợ chồng với anh Chu Đình Hà.

Về con: Anh Chu Đình Hà và chị Nguyễn Thị Nhung có 02 con chung: Chu Thị Hạnh, sinh ngày 16/08/2001, Chu Thị Dung, sinh ngày 10/02/2009.

Xét yêu cầu nuôi con của chị Nguyễn Thị Nhung: Hiện nay cháu Chu Thị Hạnh đang ở với chị Nhung, cháu Chu Thị Dung đang ở với anh Hà. Chị Nhung có nguyện vọng nuôi cả hai cháu. Hội đồng xét xử xét thấy đối với cháu Dung từ khi vợ chồng sống ly thân cháu ở với anh Hà, anh Hà vẫn đảm bảo cuộc sống cho cháu ăn học bình thường, do đó không nên xáo trộm cuộc sống của cháu. Đối với cháu Chu Thị Hạnh ở với chị Nhung từ nhỏ nên giao cháu Chu Thị Hạnh cho chị Nhung trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên có quyền qua lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị Nhung và anh Chu Đình Hà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX miễn xét.

Về tài sản: Chị Nguyễn Thị Nhung và anh Chu Đình Hà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Nhung phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53,57,81,82,83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 06/9/2000.

Căn cứ Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Nhung và anh Chu Đình Hà.

Về con: Chị Nguyễn Thị Nhung và anh Chu Đình Hà có 02 con chung: Chu Thị Hạnh, sinh ngày 16/08/2001, Chu Thị Dung, sinh ngày 10/02/2009.

Giao cho chị Nguyễn Thị Nhung trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Chu Thị Hạnh, giao cho anh Hà trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Chu Thị Dung cho đến khi các cháu thành niên. Hai bên có quyền qua lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản: Chị Nguyễn Thị Nhung và anh Chu Đình Hà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Nhung phải chịu 300.000đ( Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2017/0004457 ngày 03 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa. Chị Nhung đã thi hành xong.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nhung có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn anh Chu Đình Hà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao nhận hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ