- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị D - Bùi Văn N"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị D và anh Bùi Văn N là quan hệ vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 11/2019/HNGĐ-ST Ngày: 15-8-2019 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tựu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Văn Vũ Biên Cương;
Bà Bùi Thị Lý.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Hồng Tân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 15 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2019/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Lê Thị D, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện K, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Bùi Văn N, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện K, tỉnh Đồng Tháp.
(Tại phiên tòa chị Lê Thị D có mặt, anh Bùi Văn N vắng mặt có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 06-4-2019, Tờ tự khai ngày 14-6-2019 và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Lê Thị D trình bày: Năm 1995, chị D và anh N yêu thương nhau, được hai bên gia đình đồng ý và tổ chức đám cưới cho chị D và anh N về chung sống với nhau, chị D và anh N chung sống đến nay không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống chị D và anh N có 02 con chung tên Bùi Văn N1, sinh năm 1997 và Bùi Thị Huỳnh N2, sinh năm 2000. Hiện nay N1 và N2 đều đã thành niên, có khả năng lao động, N1 thì đã có vợ và N2 cũng đã có chồng. Chị D và anh N chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì bất đầu nảy sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nhiều vấn đề trong cuộc sống, không thể hòa thuận được. Năm 2017 chị D đã có làm đơn khởi kiện tại Tòa án huyện Tân Hồng yêu cầu ly hôn với anh N nhưng sau đó chị D suy nghĩ lại nên đã rút đơn kiện (khi Tòa án chưa thụ lý) để về hàn gắn lại với chồng nhưng những mâu thuẫn phát sinh từ trước vẫn không giải quyết được, sống chung với nhau không hạnh phúc nên chị D đã ly thân với anh N từ năm 2018 đến nay, trong thời gian ly thân thì chị D và anh N cũng không có hàn gắn lại được tình cảm. Nhận thấy có tiếp tục sống chung với anh N cũng không hạnh phúc nên chị D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Văn N.
- Về con chung: 02 con chung tên Bùi Văn N1, sinh năm 1997 và Bùi Thị Huỳnh N2, sinh năm 2000 đều đã thành niên và có khả năng lao động nên chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo trình bày trong Văn bản ý kiến ngày 14-6-2019 của bị đơn Bùi Văn N: Năm 1995, anh N và chị D yêu thương nhau, được hai bên gia đình đồng ý và tổ chức đám cưới cho anh N và chị D về chung sống với nhau, anh N và chị D chung sống đến nay không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống anh N và chị D có 02 con chung tên Bùi Văn N1, sinh năm 1997 và Bùi Thị Huỳnh N2, sinh năm 2000. Hiện nay N1 và N2 đều đã thành niên, có khả năng lao động, N1 thì đã có vợ và N2 cũng đã có chồng. Anh N và chị D chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì bất đầu nảy sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nhiều vấn đề trong cuộc sống, sống chung với nhau không hạnh phúc nên anh N và chị D đã ly thân từ năm 2018 đến nay, trong thời gian ly thân thì anh N và chị D cũng không có hàn gắn lại được tình cảm. Nay qua yêu cầu khởi kiện của chị D thì anh N có ý kiến như sau:
- Về hôn nhân: Đồng ý ly hôn với chị Lê Thị D.
- Về con chung: 02 con chung tên Bùi Văn N1, sinh năm 1997 và Bùi Thị Huỳnh N2, sinh năm 2000 đều đã thành niên và có khả năng lao động nên anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Vào ngày 09-4-2019 nguyên đơn Lê Thị D, sinh năm 1978, địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện K, tỉnh Đồng Tháp gửi đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng đối với bị đơn Bùi Văn N, sinh năm 1976, địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện K, tỉnh Đồng Tháp. Xét thấy: Nguyên đơn có quyền khởi kiện và đã thực hiện đúng về thủ tục khởi kiện theo quy định tại các điều 186, 188, 189, 190 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Việc khởi kiện của nguyên đơn là yêu cầu “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng thụ lý giải quyết vào ngày 19-4-2019 là đúng quy định tại các điều 5, 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình. Đối với bị đơn Bùi Văn N vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị D và anh N đều thừa nhận chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1995 đến năm 2018 nhưng không đăng ký kết hôn. Việc chị D và anh N không đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân xã T, huyện K, tỉnh Đồng Tháp xác nhận ngày 01-9-2017 và Ủy ban nhân xã P, huyện K, tỉnh Đồng Tháp xác nhận ngày 09-4-2019. Do đó, hôn nhân của chị D và anh N là không có giá trị pháp lý theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
Khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.
Đồng thời khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.
Chị D và anh N có đủ điều kiện kết hôn nhưng chỉ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Mặc dù chị D và anh N thống nhất ly hôn, nhưng hôn nhân của chị D và anh N không hợp pháp, do đó không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh N là vợ chồng theo quy định tại Điều 9, Điều 14 và Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị D và anh N thống nhất trong khoảng thời gian sống chung với nhau như vợ chồng có được 02 con chung tên Bùi Văn N1, sinh năm 1997 và Bùi Thị Huỳnh N2, sinh năm 2000. Hai con chung hiện nay đều đã thành niên và có khả năng lao động, chị D và anh N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị D và anh N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình: Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: “Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”, vậy chị Lê Thị D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: BH/2017/0008010 ngày 19-4-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, chị Lê Thị D đã nộp đủ tiền án phí. Anh Bùi Văn N không phải chịu tiền án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 9, 14, 51, 53 Luật Hôn nhân và gia đình; các điều 28, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị D và anh Bùi Văn N là quan hệ vợ chồng.
2. Về con chung: Hai con chung tên Bùi Văn N1, sinh năm 1997 và Bùi Thị Huỳnh N2, sinh năm 2000 hiện nay đều đã thành niên và có khả năng lao động, chị D và anh N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị D và anh Bùi Văn N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
4. Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình:
Chị Lê Thị D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: BH/2017/0008010 ngày 19-4-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, chị Lê Thị D đã nộp đủ tiền án phí.
Anh Bùi Văn N không phải chịu án phí.
5. Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 15-8-2019). Riêng bị đơn Bùi Văn N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Tân Hồng; - CC THADS huyện Tân Hồng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Văn Tựu |