vanban.org

Bản án 11/2019/HNGĐ-ST — Các yêu cầu trong trường hợp chưa có điều kiện áp dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phùng Thế A.

1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận anh Phùng Thế A và chị Nguyễn Thị Ng là vợ chồng 2. Về con chung: Giao 02 con chung là Phùng Thế Tr, sinh ngày 11/12/2007 và Phùng Thế H, sinh ngày 31/5/2015 cho anh Phùng Thế A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các yêu cầu trong trường hợp chưa có điều kiện áp dụng — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Anh Phùng Thế A; Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ng,"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phùng Thế A.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ GIA NGHĨA
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 25 - 7 - 2019
“V/v: Không công nhận quan hệ
vợ chồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Đoàn Minh Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đặng Thị Tâm;

2. Ông Nguyễn Trọng Sơn.

- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Mỹ Hằng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thống - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2019, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 84/2019/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2019 về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2019/QĐST-DS ngày 11/7/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phùng Thế A, sinh năm: 1980.

Địa chỉ: Bon S, xã Đắk N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Bon S, xã Đắk N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông.

(Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Phùng Thế A trình bày:

Anh Phùng Thế A và chị Nguyễn Thị Ng chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2007 đến nay chưa đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã về vấn đề kinh tế và tình cảm trong gia đình. Do mâu thuẫn quá nhiều, ngày càng trầm trọng khiến tình cảm rạn nứt, hiện tại anh A và chị Ng không còn yêu thương nhau, nhiều lần cố hàn gắn nhưng không được. Xét thấy không thể tiếp tục chung sống, anh A yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh A và chị Ng.

Về con chung: Anh A và chị Ng có 02 con chung là Phùng Thế Tr, sinh ngày 11/12/2007 và Phùng Thế H, sinh ngày 31/5/2015. Anh A có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 con chung đến khi các cháu đủ mười tám tuổi và không yêu cầu chị Ng cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh A tự nguyện nộp toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị Ng trình bày:

Chị Ng đồng ý với trình bày của anh A về thời gian chung sống, tình trạng hôn nhân. Chị Ng yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh A và chị Ng.

Về con chung: Đồng ý giao 02 con chung là Phùng Thế Tr, sinh ngày 11/12/2007 và Phùng Thế H, sinh ngày 31/5/2015 cho anh A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ mười tám tuổi, chị Ng không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Đồng ý với ý kiến của anh A.

Nguyện vọng của cháu Phùng Thế Tr sinh ngày 11/12/2007, là được ở với bố khi Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bố và mẹ.

Tại phiên tòa, anh A và chị Ng đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Gia Nghĩa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi được phân công giải quyết vụ án cho đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Về quan điểm giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh A .

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận anh A và chị Ng là vợ chồng.

Về con chung: Giao 02 con chung là Phùng Thế Tr và Phùng Thế H cho anh A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Ng không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn anh Phùng Thế A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Phùng Thế A và chị Nguyễn Thị Ng; bị đơn chị Nguyễn Thị Ng cư trú tại Bon S, xã Đắk N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông. Căn cứ khoản 8 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xác định quan hệ pháp luật giải quyết vụ án là "Không công nhận quan hệ vợ chồng", thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

Anh Phùng Thế A và chị Nguyễn Thị Ng đều có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, căn cứ Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của anh Phùng Thế A:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Phùng Thế A và chị Nguyễn Thị Ng tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2007 và có 02 người con chung. Quá trình sống chung, anh chị không có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền, mặc dù có đầy đủ điều kiện kết hôn, mặt khác Nhà nước có chính sách khuyến khích đăng ký kết hôn, nhưng anh chị vẫn không chấp hành là vi phạm khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “1…Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng…”.

Quá trình chung sống, anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không còn yêu thương nhau, nhiều lần cố hàn gắn nhưng không được. Nay, anh A yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh A và chị Ng. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm anh chị thực sự không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau, anh chị không có nguyện vọng thực hiện đăng ký kết hôn để tiếp tục cuộc sống vợ chồng. Do đó, yêu cầu của anh A là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống, anh A và chị Ng có 02 con chung là Phùng Thế Tr, sinh ngày 11/12/2007 và Phùng Thế H, sinh ngày 31/5/2015. Anh A và chị Ng thỏa thuận: Giao 02 con chung cho anh Phùng Thế A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con đủ mười tám tuổi. Xét thấy sự thỏa thuận này là hoàn toàn tự nguyện và đúng pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của con chung nên cần chấp nhận.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Phùng Thế A và chị Nguyễn Thị Ng thỏa thuận không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp nên cần chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Phùng Thế A và chị Nguyễn Thị Ng không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, cần chấp nhận.

Về án phí: Anh Phùng Thế A phải chịu tiền án dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy banThường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phùng Thế A.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận anh Phùng Thế A và chị Nguyễn Thị Ng là vợ chồng

1.2. Về con chung: Giao 02 con chung là Phùng Thế Tr, sinh ngày 11/12/2007 và Phùng Thế H, sinh ngày 31/5/2015 cho anh Phùng Thế A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con chung đủ 18 (mười tám) tuổi.

Chị Nguyễn Thị Ng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

1.3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Ng không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con có thể thay đổi và được thực hiện theo Điều 82, Điều 110 và Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

1.4. Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không giải quyết.

2. Về án phí: Anh Phùng Thế A phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân gia đình là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền anh A đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0000154 ngày 05/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã G, tỉnh Đắk Nông.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ