vanban.org

Bản án 11/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản

TAND TX. Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 05/07/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Quy định: Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền phải thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu thêm một khoản tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản — án dân sự — "Vụ án tranh chấp hợp đồng thuê xe giữa nguyên đơn ông Phạm Bảo Q với bị đơn ông Ngô Nhật T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NINH HÒA
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số
11/2019/DS-ST
Ngày
05/7/2019
V/v:
“Tranh chấp hợp
đồng cho thuê xe”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Khánh Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Lơn

Bà Bùi Thị Truyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Hà Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa: Bà Đào Khánh Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2019/TLST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng cho thuê xe”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/QĐXXST-DS ngày 31/5/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2019/QĐST-DS ngày 18/6/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phạm Bảo Q - sinh năm 1983

Đại diện Hộ kinh doanh L.

Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Ngô Nhật T – sinh năm 1987.

Địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt.

3. Người làm chứng: Ông Lê Trung T – sinh năm 1987.

Địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phạm Bảo Q – Đại diện Hộ kinh doanh L trình bày:

Hộ kinh doanh L (Cửa hàng xe máy L) – do ông làm đại diện hộ kinh doanh, có đăng ký kinh doanh theo Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 37D8007801 đăng ký thay đổi lần thứ 7 ngày 23/4/2018 do Phòng Tài chính – Kế hoạch thị xã N cấp. Ngày 01/6/2018, ông có thuê tại cửa hàng xe máy H một xe máy loại Sirius, biển số 79H1-185.97 với giá thuê là 50.000 đồng/ngày, mục đích cho thuê lại. Cùng ngày, Cửa hàng xe máy L đã cho ông Ngô Nhật T thuê lại chiếc xe máy nêu trên theo Hợp đồng cho thuê xe số 3/LTQ-HĐTX với giá thuê là 100.000 đồng/ngày, thời hạn thuê là 01 tháng, phương thức thanh toán 01 ngày/lần, mục đích thuê làm phương tiện đi lại. Hết thời hạn thuê xe, ông có yêu cầu ông T trả xe và thanh lý hợp đồng nhưng ông T né tránh, không hợp tác, không chịu trả xe mà chỉ trả một phần tiền thuê xe. Đến ngày 24/9/2018 ông T mới nhờ ông Lê Trung T, là người chạy xe thồ trả xe lại cho ông. Như vậy, tổng thời gian ông T thuê xe của ông là 115 ngày tương đương với số tiền 11.500.000 đồng, ông T đã thanh toán cho ông số tiền 6.800.000 đồng (ngày 12/6/2018 trả 500.000 đồng, ngày 23/6/2018 trả 800.000 đồng, ngày 03/7/2018 trả 2.000.000 đồng, ngày 05/8/2018 trả 1.000.000 đồng, ngày 24/9/2018 trả 2.500.000 đồng), còn nợ lại 4.700.000 đồng. Toàn bộ số tiền này ông T đều trả cho ông thông qua ông Lê Trung T, ông Lê Trung T có nói với ông rằng ông T nhờ ông Lê Trung T mang đến đóng dùm, ông Lê Trung T chỉ nhận tiền xe thồ chứ không liên quan gì đến việc thuê xe của ông T. Nay ông khởi kiện yêu cầu ông Ngô Nhật T phải trả cho Hộ kinh doanh L số tiền thuê xe còn thiếu là 4.700.000 đồng, ông không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn ông Ngô Nhật T và người làm chứng ông Lê Trung T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T, ông Le6 Trung T không đến Tòa, do đó không có lời trình bày.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa đã tuân theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự quy định trong quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án: Phía bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thuê xe cho nguyên đơn theo hợp đồng thuê xe đã ký kết giữa hai bên. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Căn cứ vào Điều 481 và Điều 482 của Bộ luật dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Ngô Nhật T phải trả cho Hộ kinh doanh L số tiền 4.700.000 đồng.

Về án phí: Bị đơn ông Ngô Nhật Thành phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thủ tục tố tụng: Ông Phạm Bảo Q - Đại diện Hộ kinh doanh L - khởi kiện yêu cầu ông Ngô Nhật T trả cho Hộ kinh doanh L số tiền thuê xe còn thiếu là 4.700.000đ. Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê xe” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Ngô Nhật T và người làm chứng ông Lê Trung T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông T, người làm chứng ông Lê Trung T.

Về nội dung vụ án:

Các bên có đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự khi ký kết hợp đồng cho thuê xe số 03/LTQ-HĐTX ngày 01/6/2018, việc ký kết hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, hợp đồng cho thuê xe số 03/LTQ-HĐTX ngày 01/6/2018 giữa Hộ kinh doanh L với ông Ngô Nhật T là hợp pháp.

Xét thấy, theo nội dung của hợp đồng cho thuê xe số 03/LTQ-HĐTX ngày 01/6/2018 thì thời hạn thuê xe là 01 tháng, phương thức thanh toán tiền thuê xe: 01 ngày một lần nhưng đến ngày 24/9/2018 ông T mới trả xe, đồng thời ông T không thực hiện việc trả tiền thuê xe đúng cam kết. Như vậy, ông Ngô Nhật T đã vi phạm nghĩa vụ của bên thuê xe, không trả tiền thuê xe và trả lại xe đúng thời hạn được quy định trong hợp đồng. Tính đến ngày 24/9/2018 (ngày ông T trả lại xe) thì thời gian thuê xe và tiền thuê xe là: 115 ngày x 100.000đ/ngày = 11.500.000 đồng. Ông T đã thanh toán số tiền thuê xe là 6.800.000 đồng (ngày 12/6/2018 trả 500.000 đồng, ngày 23/6/2018 trả 800.000 đồng, ngày 03/7/2018 trả 2.000.000 đồng, ngày 05/8/2018 trả 1.000.000 đồng, ngày 24/9/2018 trả 2.500.000 đồng), còn thiếu 4.700.000 đồng. Vì vậy, nguyên đơn ông Phạm Bảo Q – đại diện Hộ kinh doanh L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông T trả số tiền thuê xe còn thiếu là 4.700.000đ là có cơ sở nên cần chấp nhận. Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi nên không xem xét.

Về án phí: Bị đơn ông Ngô Nhật T phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn ông Phạm Bảo Q – Đại diện hộ kinh doanh L.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 472, Điều 481 và 482 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Ngô Nhật T phải trả cho Hộ kinh doanh L số tiền 4.700.000đ.

Quy định: Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền phải thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu thêm một khoản tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán.

Về án phí: Ông Ngô Nhật T phải nộp 300.000đ đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho ông Phạm Bảo Q – Đại diện hộ kinh doanh L 300.000đ đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2018/0006153 ngày 15/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Báo cho nguyên đơn biết được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ